TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA 1

  • Tiếng Việt
  • Français
  • English

Văn thư triều Nguyễn qua Châu bản – Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

11:05 21/11/2016

Dưới triều Nguyễn, công tác văn thư được chú trọng và quan tâm. Đồng thời, nhận thức được giá trị lịch sử của văn bản quản lí nhà nước và mối quan hệ mật thiết giữa công tác văn thư với công tác lưu trữ, triều Nguyễn đã có nhiều biện pháp bảo quản, lưu trữ các văn bản. Nhờ đó, một phần văn bản quản lí nhà nước, công văn trao đổi, sổ sách hành chính hình thành dưới triều Nguyễn và nhiều thư tịch quý hiếm khác được lưu giữ đến nay. Trong số các nguồn tư liệu đó phải kể đến gần 800 tập Châu bản triều Nguyễn đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.

anh2

Một pano trong Triển lãm Văn thư triều Nguyễn qua Châu bản – Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Từ khi có chữ viết, văn bản là phương thức truyền tải thông tin không thể thiếu trong hoạt động quản lí nhà nước. Ở nước ta, từ xưa, các bậc đế vương trị quốc chủ yếu dựa vào các văn bản, các loại công văn giấy tờ để truyền mệnh lệnh và nắm bắt thông tin. Các hoạt động liên quan đến văn bản, công văn giấy tờ này được gọi chung là công tác văn thư.

Châu bản triều Nguyễn là hệ thống văn bản hành chính được hình thành trong hoạt động quản lí của bộ máy nhà nước. Những văn bản đó là nguồn sử liệu vô giá mà triều Nguyễn đã để lại cho hậu thế. Thông qua chính các văn bản quản lí nhà nước này, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I tổ chức triển lãm tài liệu lưu trữ Văn thư triều Nguyễn qua Châu bản – Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Triển lãm trưng bày trên 100 phiên bản Châu bản triều Nguyễn, bố cục thành 5 phần, gồm:

Phần 1: Tổ chức và nhân sự làm công tác văn bản.

Về tổ chức, ngay sau khi lên ngôi (1802), Vua Gia Long đã thiết lập Thị thư viện, Thị hàn viện, Nội hàn viện để giúp các việc về công văn giấy tờ và quản lí ấn tín. Năm 1820, Vua Minh Mệnh gộp ba cơ quan này và đổi thành Văn thư phòng. Trên thực tế, Văn thư phòng là một cơ quan giúp việc rất quan trọng cho nhà vua, vì vậy năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), nhà vua ban dụ: “Khi trẫm mới thân chính đổi là Văn thư phòng, danh sách dẫu khác, cũng đều là để giữ sổ sách và theo hầu hai bên. Nay nghĩ Văn thư phòng chưa thỏa nên đổi làm Nội các”(1). Năm 1933, Vua Bảo Đại đổi Nội các thành Ngự tiền văn phòng. Trong thời gian 143 năm tồn tại của vương triều Nguyễn, cơ quan này đã nhiều lần thay đổi tên gọi, nhưng dù với tên gọi gì, cơ cấu tổ chức thế nào thì cơ quan này vẫn luôn giữ vai trò giúp việc trực tiếp cho nhà vua, chuyên trách công tác văn thư và lưu trữ các văn bản quản lí nhà nước.

Năm 1829, Nội các thành lập. Tháng 1 năm Minh Mệnh 11 (1830), vua ban dụ: “Nay đã cải định Phòng Văn thư làm Nội các để cố vấn. Lần lượt đã giáng chỉ huấn sức cùng lập rõ điều khoản chương trình để chỉ rõ”(2) nhằm quy định trách nhiệm giữa Nội các và Lục bộ trong việc giải quyết văn thư trước khi trình lên vua phê duyệt.

Song song với việc thiết lập cơ quan và “lập rõ điều khoản chương trình” là phương thức tuyển chọn nhân sự. Về nhân sự, khi lập Nội các vua Minh Mệnh vẫn lo “nếu lại chuyên đặt quan chức sợ không phải là ý nghĩa phòng việc tự khi còn mới”(3). Vì vậy, viên chức Nội các chỉ đặt 4 người quản lĩnh, lấy quan tam, tứ phẩm ở bộ, viện sung vào làm việc và 28 người thuộc viên.

Công tác văn thư có vai trò rất quan trọng và cần thiết. Vì vậy, ngay từ ban đầu các Hoàng đế triều Nguyễn đã quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ thưởng phạt đối với các cơ quan, chức quan phụ trách công tác văn thư. Đây là một trong những nhân tố quan trọng khiến công tác văn thư triều Nguyễn được tổ chức, hoạt động có quy củ và sớm hoàn thiện.

Phần 2: Soạn thảo, ban hành văn bản.

Soạn thảo và ban hành văn bản là một nội dung cơ bản trong công tác văn thư. Tuy triều Nguyễn ban hành khá đa dạng về loại hình văn bản, gồm: chiếu, chỉ, dụ, chế, sắc do hoàng đế ban hành; Công đồng truyền, Công đồng sai, Công đồng phó, Công đồng di, Công đồng khiến do Công đồng ban hành; tấu, phiến, phúc, biểu, khải, bẩm, thân, kê, truyền thị, tư di, tư trình, trát do quan lại trung ương và địa phương ban hành. Song, trong soạn thảo, các loại hình văn bản này đều phải tuân theo thể thức trình bày nhất định, gồm: quốc hiệu (đối với văn bản ngoại giao), tên loại văn bản, chủ thể ban hành, người nhận, tên người soạn thảo, người khảo duyệt, người đối duyệt, ngày tháng năm ban hành và dấu cơ quan hoặc cá nhân ban hành văn bản. Đồng thời, nội dung trong văn bản phải được trình bày rõ ràng, mạch lạc và văn từ phù hợp với từng loại hình văn bản. Về hình thức, văn bản phải trình bày đúng số dòng, số chữ trong trang theo quy định. Đặc biệt, văn bản nhất thiết phải theo đúng quy định viết đài và lệ kiêng húy.

Phần 3: Chuyển giao, giải quyết văn bản.

Sau khi hoàn thiện văn bản, công tác chuyển giao, giải quyết văn bản là bước không thể thiếu để văn bản đi tới thực thi. Để công tác chuyển giao, giải quyết văn bản kịp thời, triều Nguyễn cho đặt trạm dịch ở các địa phương và thường xuyên kiểm tra các hoạt động của hệ thống trạm dịch luân chuyển công văn này. Ngoài ra, các vua triều Nguyễn cũng đặt ra nhiều biện pháp cần thiết trong chuyển phát, giải quyết văn bản như: quy định về phương thức, biện pháp, thời hạn để được nhanh chóng, an toàn, bí mật. Bên cạnh đó, các Hoàng đế triều Nguyễn đặc biệt quan tâm đến bộ phận tiếp nhận, đệ trình lên vua phê duyệt. Vì vậy, trong công tác chuyển giao văn bản ở trung ương, nhà Nguyễn quy định rõ từng loại văn thư sẽ do cơ quan nào tiếp nhận và đệ trình. Nếu là văn thư bình thường thì việc liên quan đến bộ nào thì bộ đó tiếp nhận, đệ trình lên nhà vua. Tuy nhiên, với những văn thư mật, khẩn hoặc thuộc việc quân sự quan trọng sẽ giao trực tiếp cho Thị vệ xứ đệ trình. Các văn thư này khi trình lên vua giải quyết, nhà vua sẽ ngự phê lên văn bản để truyền ý chỉ, mệnh lệnh của mình. Hình thức ngự phê của các Hoàng đế triều Nguyễn là một nét độc đáo trong các văn bản quản lí nhà nước triều Nguyễn nói riêng và trong công tác văn thư Việt Nam nói chung.

Phần 4: Quản lí, sử dụng con dấu

Trong công tác văn thư, con dấu có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng, nó thể hiện tính tín xác và hiệu lực pháp lí của văn bản, cũng là để “phòng ngừa gian dối, ngăn cấm sự thay đổi”. Chính vì thế, triều Nguyễn đặc biệt quan tâm đến việc quản lí và sử dụng con dấu. Cũng bởi ý nghĩa đó, triều Nguyễn đã cho chế cấp nhiều loại hình ấn triện để sử dụng phù hợp với từng loại văn thư. Mặt khác, triều Nguyễn quy định rất rõ ràng, chặt chẽ nguyên tắc dùng dấu và vị trí đóng dấu trên văn thư.

Phần 5: Lưu trữ, khai thác văn bản

Triều Nguyễn, các văn bản quản lí nhà nước sau khi ban hành và giải quyết xong đều được quản lí chặt chẽ, sắp xếp, bảo quản và lưu trữ cẩn thận để phục vụ cho việc tra cứu thông tin, đặc biệt là phục vụ cho việc biên soạn chính sử của vương triều. Và cho đến nay, di sản tư liệu này vẫn là một nguồn sử liệu quan trọng, tín thực đối với việc nghiên cứu lịch sử triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Công tác văn thư là một hoạt động quan trọng trong việc quản lí, điều hành đất nước. Triển lãm tài liệu lưu trữ Văn thư triều  Nguyễn qua Châu bản – Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bước đầu giới thiệu đến công chúng các hoạt động trong công tác văn thư triều Nguyễn nhằm cung cấp thêm thông tin về sự quan tâm của các Hoàng đế triều Nguyễn đối với hoạt động quản lí nhà nước bằng văn bản; Đồng thời, triển lãm góp phần đưa di sản tư liệu Châu bản triều Nguyễn đến gần hơn với công chúng, và chắc chắn triển lãm sẽ đem lại nhiều ý nghĩa đối với sinh viên ngành văn thư và những học giả nghiên cứu, người làm công tác văn thư hiện nay.

_________________

1.Quốc sử quán triều nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, tr.927.

2.Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 40, tờ 83.

3.Quốc sử quán triều nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, tr.928.

 

Đoàn Thủy – Nguyễn Hường

 

Liên Hệ Phòng Đọc

Điện thoại:(84-4) 37822545 - Ext: 208

Email:luutruquocgia1@gmail.com

Yahoo:

Skype:

554111 truy cập

12 trực tuyến

Liên kết Website

© Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia I
Số giấy phép: 173/GP-TTDT, cấp ngày: 10/12/2015
Chịu trách nhiệm: Ths. Trần Thị Mai Hương - Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia I
Địa chỉ: 18, Vũ Phạm Hàm, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.37822545; Fax: 04.38255614