09:19 PM 16/06/2019  | 

Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên (1759 - 1824) là một trong những bậc khai quốc công thần theo vua Gia Long từ buổi đầu gian nan dựng nghiệp…

              Theo Đại Nam liệt truyện thì tổ tiên của Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên là người huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên, cha tên là Quảng[1], làm quan đến chức Cai cơ. Đồng thời, trong bản “Lý lịch sự vụ” ông cũng viết: “Tằng tổ [ông cố] của thần tên là Nguyễn Phúc Huân, người làng Dương Nỗ, tổng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong[2]… Thân phụ thần là Nguyễn Đức Khương, bà mẹ người họ Đỗ, mới sinh được hai người con gái. Lúc này gia cảnh sa sút, lại phải di cư một lần nữa, vào ngụ tại thôn Tân Kiểng, huyện Tân Long, thành Gia Định[3].

            Trong bản “Lý lịch sự vụ” này cho biết thêm, sau này gia đình ông có 5 anh em và ông sinh ngày 15 tháng 6 năm Kỷ Mão (1759). Ông là người có sức khỏe và mưu lược. Lòng trung thành với nhà Nguyễn đã khiến ông băng núi vượt biển theo giúp vua Gia Long, để rồi từ một Đội trưởng dần dần đã trở thành Chưởng Tượng quân. Năm 1799, ông được làm “Tri Tượng chính, quản 4 vệ: Hùng võ, Hùng uy, Phấn uy, Hùng dũng và 10 tượng cơ [voi][4]. Mùa xuân năm 1800, ông được phong làm Đô thống chế.

            Dưới sự thống lãnh của Nguyễn Đức Xuyên, đội quân Tượng binh được tổ chức quy củ và thiện chiến. Đó là một hùng binh đáng nể thời bấy giờ và lập được nhiều chiến công giúp vua Gia Long lấy lại được giang sơn.

Trong những ngày gian khó, khi vua Gia Long bị thua, ông đã hộ vệ vua chạy đến Hà Tiên. Về sau lại lập công lớn đánh đuổi được giặc Đồ Bà ở vùng biển Hà Tiên. Ông cùng các tướng Nguyễn Văn Trương, Lê Văn Duyệt xông pha nơi tên rơi đạn lạc trong các trận đánh thành Quy Nhơn, cửa Thị Nại, đồn Tháp Cát v.v… Với những chiến công trong cuộc đời chinh chiến của mình, Nguyễn Đức Xuyên xứng là bậc khai quốc công thần với những “công nghiệp rực rỡ, nghĩa liệt rõ ràng”.

            Trước những công lao rõ rệt đó, vua Gia Long đã rất coi trọng ông, thăng quan cấp bổng. Sau này, vua Minh Mệnh lên ngôi cũng một lòng ưu hậu với ông. Châu bản triều Nguyễn cho biết, tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), Nguyễn Đức Xuyên dâng tấu xin cấp trước lương bổng của năm sau nhưng nhà vua đã giáng chỉ thưởng cấp mà không cần phải lĩnh trước lương bổng. Bản tấu viết: “Thần vốn được ban cấp thêm bổng cả năm là 2400 quan tiền, 1440 phương gạo. Vào năm Giáp Thân này đã lĩnh nhận từ ngày 01 tháng 7 đến cuối tháng 12, tổng cộng 6 tháng gạo, tiền. Đến nay gia đình thần chi dùng không đủ. Vì vậy, mạo muội muôn vàn trông vào Thánh thượng gia ân cho phép thần được lĩnh trước số tiền, gạo từ ngày 01 tháng Giêng đến cuối tháng 6 năm Ất Dậu, tổng cộng 6 tháng là 1200 quan tiền, 720 phương gạo để chi dùng[5]. Trên bản tấu này, vua Minh Mệnh phê rõ: “Đã giáng chỉ gia ân thưởng rồi, bất tất phải dự chi. Lại có chỗ nào không chu tất, cứ tâu lên không phương hại gì, với khanh không có gì phải tiếc”. Lời ngự phê này cho thấy sự quan tâm, ưu ái đặc biệt của vua Minh Mệnh đối với Nguyễn Đức Xuyên.

Bản tấu ngày 21 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) của Chưởng tượng quân Nguyễn Đức Xuyên về về xin cấp trước tiền lương bổng của năm sau để chi dùng Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I/Châu bản triều Nguyễn

 

              Về việc này, Đại Nam liệt truyện cũng chép như sau: “Xuyên tính hào phóng, chi phí rất rộng, lập ra ban tuồng có bộ nam bộ nữ, vợ lẽ nàng hầu xen lẫn ở trong bộ nữ, vì chi dùng trong nhà không đủ, tâu với Thánh tổ, xin dự chi lương bổng năm sau. Vua sai ban cho 1000 quan tiền và 1000 phương gạo. Vua dụ rằng: nếu có không đủ, lại tâu với trẫm, nhà nước đối với ngươi không tiếc gì đâu”.

            Khi Nguyễn Đức Xuyên ốm, vua Minh Mệnh sai người đến hỏi thăm. Khi ông mất, vua vô cùng thương tiếc, lại ban tặng “Đặc tiến Tráng vũ Tướng quân, Tả trụ quốc Thái phó, cho tên thụy là Trưng Dũng hầu, ban cho gấm, đoạn nhiễu và tiền, nghỉ triều 3 ngày, sai quan phụ tế, ngày hôm chôn, nghỉ triều một ngày, phái 1000 quân, 10 con voi đi đưa ma. Lại ban cho hơn 1400 quan tiền, 10000 phương gạo, cấp cho phu coi mộ”.

            Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), nhà vua cho cố Nguyễn Đức Xuyên được phối thờ ở Thế miếu, lại cho thờ ở miếu Trung Hưng. Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), lại cho cấp tự điền. Bản sắc dụ ngày ngày 27 tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) của vua Minh Mệnh trong Châu bản triều Nguyễn viết: “Thường nghĩ cố Chưởng Tượng quân, tặng Thái phó Xuyên quận công Nguyễn Đức Xuyên cùng các nguyên thần công lao lớn thay. Lúc sống đã ban tước cao, khi chết lại ban hàm lớn, sau đó lại cho thờ vào Thế miếu. Duy khoản ruộng thờ tự chưa được thưởng cấp. Truyền cấp cho 100 mẫu ruộng thờ do Bộ Hộ theo số lượng và vị trí cấp cho để những người nối dõi, theo các điều khoản đã ban cấp đời đời thu thuế cung cấp cho việc thờ cúng hàng năm[6].

            Sau đó, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), nhà vua tiếp tục phong tặng ông làm “Tá Vận công thần, Đặc tiến Tráng Võ tướng quân, Hữu quân Đô thống phủ, Chưởng phủ sự, Thái phó, đổi tên thuỵ là Hoàn Dũng, phong Khoái Châu quận công[7].

            Vua Minh Mệnh không chỉ thể hiện sự ưu hậu qua sự đối đãi, ban thưởng, phong hàm thưởng tước cho Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên mà còn quan tâm, ưu ái, cấp cho tiền bạc tới cả con trai, con gái của ông. Trong bản tấu ngày 19 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) của Nguyễn Đức Hựu[8] về việc xin cấp tiền lương và lương thực để sinh sống cho con trai, con gái của cố Nguyễn Đức Xuyên đã chép lời chỉ của vua Minh Mệnh như sau: “13 người con trai truyền cấp cho mỗi người mỗi tháng 3 quan tiền và 3 phương gạo; 13 người con gái cùng 01 người con gái quy tông, tổng cộng 14 thị, truyền cấp mỗi thị mỗi tháng 2 quan tiền và 1 phương gạo, bắt đầu từ ngày 01 tháng 4 năm nay[9].

            Như vậy, qua những ghi chép của chính sử Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện và đặt biệt là sử liệu Châu bản triều Nguyễn đã cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin về khai quốc công thần Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên. Đồng thời, sử liệu cũng cho chúng ta hiểu thêm về tấm lòng, tình cảm, sự ghi nhận, đãi ngộ và ưu hậu của vua Minh Mệnh đối với công lao hiển hách của các bậc công thần trong buổi đầu lập quốc.


[1] Tên húy của thân sinh Nguyễn Đức Xuyên.

[2] Năm 1822, vua Minh Mệnh cho đổi dinh Quảng Đức thành phủ Thừa Thiên. Sau này huyện Phú Vang thuộc phủ Thừa Thiên.

[3] Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (123). 2015

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.430.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 9, tờ 201.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 29, tờ 274.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.259.

[8] Con trai của Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên.

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 11, tờ 111.

Nhật Anh