TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA 1

  • Tiếng Việt
  • Français
  • English

Sự thành lập Trường Quốc học Huế qua tài liệu lưu trữ

2:40 12/09/2016

Trường Quốc học được thành lập theo Dụ ngày 17 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8 (ngày 23 tháng 10 năm 1896) và Nghị định ngày 18 tháng 11 năm 1896 của Toàn quyền Đông Dương A. Rousseau. Để bạn đọc hiểu rõ hơn về lịch sử thành lập ngôi trường này, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bản dịch nguyên văn hai văn bản trên.

Trường Quốc học là một trong những ngôi trường nổi tiếng của Huế và của cả khu vực miền Trung. Năm 1896, trường được thành lập theo chỉ dụ của vua Thành Thái. Lúc mới thành lập, trường có tên là École Primaire Supérieure (tức Trường Cao đẳng Tiểu học) nhưng thường gọi là Quốc Học (1896-1936), rồi lần lượt mang tên Trường Trung học Khải Định (1936-1954), Trường Trung học Ngô Đình Diệm (1955-1956) và trở về với tên Trường Quốc học vào năm 1956 cho đến nay. Đây là nơi mà chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng khác từng theo học.

anh 1

Trường Quốc học Huế hiện nay, nguồn: sưu tầm

Trường Quốc học được thành lập theo Dụ ngày 17 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8 (ngày 23 tháng 10 năm 1896) và Nghị định ngày 18 tháng 11 năm 1896 của Toàn quyền Đông Dương A. Rousseau.

Dụ ngày 17 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8 về việc thành lập Trường Quốc học Huế

“Nguyễn Thân, Nguyễn Thuật, Trương Như Cương, Hồ Đệ và Phạm Phú Lâm phụng chỉ ban Dụ:

Phát triển giáo dục là phương tiện duy nhất giúp các nho sinh nắm bắt kiến thức để giải quyết những vấn đề của triều đình và chính quyền, tính cân đối của việc dạy lí thuyết sẽ góp phần giáo dục tư tưởng và đào tạo bậc hiền tài. Mới đây, Hội đồng Cơ mật trình lên trẫm bản tấu, trong đó có thoả thuận chung giữa các ngài Toàn quyền Đông Dương, Phó nam vương, Khâm sứ Trung Kì, Hộ nam công về việc thành lập một trường dạy tiếng Pháp.

Một hội đồng do ngài Basset, Phó Khâm sứ Trung Kì – thư kí đặc biệt của ngài Khâm sứ và ngài Bouyeure, Phó đại biện Bộ Nội vụ cùng thành viên là Ganter, Thượng Thư Bộ Hộ Trương Như Cương, Thượng Thư Bộ Lễ Huỳnh Vĩ và Thương Biền Ngô Đình Khả được giao nghiên cứu về điều kiện tổ chức và hoạt động của trường này. Trẫm đã xem bản tấu của Hội đồng Cơ mật, kết luận của Hội đồng phù hợp với các điều luật của triều đình. Nay trẫm ban Dụ rằng:

Quyết định thành lập một trường dạy tiếng Pháp mang tên Trường Quốc học, tại đây việc giảng dạy chính là tiếng Pháp và có giảng dạy chữ Hán.

Con của hoàng thân, vương công (công tử) và thanh niên dòng dõi hoàng tộc, con của các quan lại (ấm tử), học sinh Trường Quốc Tử Giám cũng như học sinh trường chính quy mở tại thủ phủ các tỉnh, nếu có nguyện vọng sẽ được nhận vào học và có quyền hưởng trợ cấp, miễn là đáp ứng yêu cầu về trình độ học vấn, tuổi từ 13 đến 20.

Các trường hợp quá tuổi quy định vẫn được nhận vào trường nếu có khả năng nổi trội về học vấn.

Học sinh Trường Hạnh Nhân cũng như con nhà thường dân nếu có trí tuệ và đủ năng lực về chữ Hán được công nhận có khả năng theo học sẽ được nhận vào Trường Quốc học Huế.

Những bậc phụ huynh có con nhỏ tuổi từ 8-13 có thể cho con theo học với sự đồng ý của trưởng giáo.

Đội ngũ giáo viên của trường gồm: 1 trưởng giáo, 4 đốc giáo ở các hạng khác nhau và 1 đốc giáo phụ trách lớp sơ đẳng. Họ hưởng trợ cấp theo quy định của Hội đồng. Hai giám thị của trường được hưởng lương nhưng không có trợ cấp giống như thư kí và nhân viên bảo vệ.

Trưởng giáo Trường Quốc học Huế do Toàn quyền Đông Dương bổ dụng, theo đề nghị của Khâm sứ Trung Kì, sau khi có ý kiến chấp thuận của Hội đồng Cơ mật. Trưởng giáo được trực tiếp liên hệ với Khâm sứ, Hội đồng Cơ mật và Thượng thư.

Khi bổ dụng đốc giáo, Hội đồng Cơ mật sẽ bàn bạc với Khâm sứ và một hội đồng được thành lập để đánh giá năng lực và khả năng của ứng viên. Nhân sự giảng dạy lưu trú tại trường. Bộ Lại chịu trách nhiệm bổ nhiệm chức thư kí và bảo vệ trường.

Triều đình thanh toán mọi chi phí về nhân sự và thiết bị: xây phòng học, nhà ở cho nhân viên, lương, thưởng, trợ cấp.

Nội quy trường học, sĩ số học sinh, trợ cấp, thời gian học, thời gian tổ chức thi tuyển, quyền lợi được hưởng đối với các chức danh khác dành cho học sinh tốt nghiệp trường do trưởng giáo quyết định. Sau khi xem xét, Hội đồng Cơ mật sẽ trình dự thảo lên Khâm sứ phê chuẩn và được chuẩn y bằng Dụ.

Khâm sứ giữ quyền giám sát tối cao khi điều hành công việc. Muốn mối quan hệ giữa hai chính phủ phát triển thuận lợi, trưởng giáo và đốc giáo cần tuân thủ nghiêm ngặt nội quy của trường, nỗ lực động viên nho sinh tích cực học tiếng Pháp và chữ Hán để sau này giúp ích cho đất nước và đáp ứng yêu cầu của công việc chung. Nay trẫm ban Dụ thành lập Trường Quốc học dành cho giáo dục và phát triển trí tuệ của nho sinh.   

Dụ này được chuyển tới Toàn quyền, người chịu trách nhiệm bổ dụng Trưởng giáo và phê chuẩn các quy định chung liên quan đến Trường Quốc học. Thông qua Khâm sứ, trẫm sẽ chỉ định một ủy ban khảo thí sát hạch ứng viên thi tuyển vào chức danh đốc giáo.

Dấu của Trường Quốc học đúc bằng đồng theo mẫu dấu của Trường Quốc Tử Giám. Dấu lớn khắc “Quốc học trường quan phòng” bằng chữ Hán và dấu kiềm khắc “Quốc học” bằng chữ Hán”.

Nghị định ngày 18 tháng 11 năm 1896 của Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập Trường Quốc học Huế

Nghị định gồm 15 điều, trong đó có:

Điều 1. Quyết định thành lập Trường Quốc học Huế dưới sự giám sát tối cao của Khâm sứ Trung Kì.

Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính dùng để giảng dạy trong nhà trường. Chữ Hán được sử dụng song song với tiếng Pháp.

Điều 2. Bãi bỏ Trường Hạnh Nhân và thay bằng Trường Quốc học.

Điều 3. Học sinh tuyển vào trường là các cựu học sinh Trường Quốc Tử Giám và Trường Hạnh Nhân cũ, tuổi từ 15 đến 20, trừ trường hợp quy định tại điều 6.

Điều 4. Những đối tượng được nhận vào học tại Trường Quốc học Huế bao gồm:

– Công tử [con của các hoàng thân];

– Tôn sinh [các thanh niên thuộc dòng dõi hoàng tộc];

– Ấm tử [con của quan lại trong triều];

– Học sinh Trường Hạnh Nhân;

– Học sinh Trường Quốc Tử Giám.

Học sinh thuộc diện trên được hưởng trợ cấp hoặc học bổng từ triều đình An-nam theo quy định.

Điều 5. Mọi nho sinh bản xứ sau khi đỗ kì thi sát hạch ban đầu, đủ trình độ chữ Hán để tiếp thu bài giảng có thể theo học tại trường.

Điều 6. Trẻ từ 8 đến 15 tuổi có quyền học ngoại trú tại một lớp học đặc biệt. Phụ huynh muốn cho con theo học phải có sự nhất trí của trưởng giáo.

Điều 7. Đội ngũ đốc giáo của trường gồm: 1 trưởng giáo; 1 đốc giáo hạng 1; 1 đốc giáo hạng 2; 1 đốc giáo hạng 3; 1 đốc giáo hạng 4; 1 đốc giáo phụ đạo; 2 giám thị.

Điều 8. Trưởng giáo do Toàn quyền bổ nhiệm, theo đề nghị của Khâm sứ Trung Kì được thông qua trước Hội đồng Cơ mật. Trưởng giáo xếp vào hàng quan lại và trực tiếp liên hệ với Khâm sứ, Hội đồng Cơ mật và Thượng thư các bộ trong triều.

Điều 9. Đốc giáo chỉ được tuyển dụng sau khi đỗ kì thi sát hạch năng lực trước một Hội đồng thi do Khâm sứ Trung Kì bổ nhiệm.

Điều 10. Ngoài tiền lương, hàng tháng, trưởng giáo và đốc giáo Trường Quốc học Huế còn hưởng trợ cấp chức vụ như sau:

1

Trưởng giáo

50 đồng bạc Đông Dương

2

Đốc giáo hạng nhất

25                –

3

Đốc giáo hạng nhì

20                –

4

Đốc giáo hạng ba

15                –

5

Đốc giáo hạng tư

10                –

6

Đốc giáo phụ trách lớp Sơ đẳng

10                –

Điều 11. Trưởng giáo và đốc giáo ăn nghỉ tại trường.

Điều 13. Ở kì thi tốt nghiệp, những nho sinh đạt điểm xuất sắc hưởng các đặc quyền theo chế độ quy định tại Dụ của Vua ngày 17-9 năm Thành Thái thứ 8.

Điều 14. Mọi chi phí liên quan đến nhân sự, trang thiết bị, thi công và trùng tu nhà cửa đều do triều đình An-nam đảm nhiệm”.

Nguồn:

Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Công báo Đông Dương, phần II Trung – Bắc Kì, 1896.

 

HOÀNG HẰNG

 

Liên Hệ Phòng Đọc

Điện thoại:(84-4) 37822545 - Ext: 208

Email:salledelecture1@gmail.com

Yahoo:

Skype:

185110 truy cập

96 trực tuyến

Liên kết Website

© Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia I
Số giấy phép: 173/GP-TTDT, cấp ngày: 10/12/2015
Chịu trách nhiệm: Ths. Hà Văn Huề - Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia I
Địa chỉ: 18, Vũ Phạm Hàm, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.37822545; Fax: 04.38255614