TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA 1

  • Tiếng Việt
  • Français
  • English

Sự thành lập Ngân hàng Đông Dương qua tài liệu lưu trữ

6:16 02/02/2018

 

Ngân hàng Đông Dương (Banque de I’Indochine, viết tắt là BIC) ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt với “sứ mệnh” là một ngân hàng độc quyền phát hành giấy bạc tại các xứ thuộc Đông Dương, các thuộc địa của Pháp tại khu vực Thái Bình Dương và các tỉnh Ấn Độ thuộc Pháp khi Nam Kỳ và chính phủ Pháp gặp khó khăn về tài chính. Mặc dù vậy, đến nay những công trình nghiên cứu, bài viết về ngân hàng Đông Dương một thời của giới tư bản tài chính Pháp ở vùng Viễn Đông vẫn còn rất ít ỏi. Để cung cấp thêm thông tin về sự thành lập của ngân hàng này, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc nội dung Sắc lệnh ngày 21-01-1875 của Tổng thống đệ tam nước Cộng hòa Pháp Patrice de Mac-Mahon về việc thành lập Ngân hàng Đông Dương kèm theo bản Điều lệ của Ngân hàng đăng trên Công báo Nam Kỳ năm 1875[1].

anh1

Phòng tiếp nhận công văn, Ngân hàng Đông Dương

  1. Sắc lệnh ngày 21-01-1875 về việc thành lập Ngân hàng Đông Dương gồm 6 điều, trong đó có một số nội dung đáng lưu ý như sau:

“Điều 1. Quyết định thành lập một ngân hàng phát hành, cho vay và chiết khấu mang tên Ngân hàng Đông Dương để phục vụ các xứ thuộc địa Nam Kỳ và Ấn Độ thuộc Pháp.

Điều 2. Đặc quyền của ngân hàng này được nhượng cho một hiệp hội cổ đông mang tên Ngân hàng Đông Dương với điều kiện ngân hàng phải tuân thủ các quy định đính kèm Sắc lệnh hiện hành.

Điều 3. Thời gian hưởng đặc quyền kéo dài 20 năm tính từ ngày này (ngày ký ban hành Sắc lệnh hiện hành).

Điều 4. Mọi quyền lợi và đặc quyền dành cho các ngân hàng thuộc địa liên quan đến những khoản vay nông nghiệp và hàng hóa quy định theo Luật ngày 24 tháng 6 năm 1874 được chuyển giao cho Ngân hàng Đông Dương.

Điều 5. Ủy ban giám sát các ngân hàng thuộc địa thực thi các quyền hạn đối với Ngân hàng Đông Dương theo Luật đã nêu”.

  1. Bản điều lệ của Ngân hàng Đông Dương gồm 3 phần, 73 điều với nội dung như sau:

“PHẦN I. TỔ CHỨC NGÂN HÀNG VÀ TÍNH CHẤT HOẠT ĐỘNG ĐƯỢC GIAO”

 Đoạn I. Tổ chức, thời gian và trụ sở của Công ty

Điều 1. Ngân hàng Đông Dương là công ty vô danh với thành phần gồm toàn thể cổ đông. Mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm với Công ty trong giới hạn phần vốn điều lệ mà cổ đông đó nắm giữ.

Điều 2. Trụ sở chính của Công ty đặt tại Paris, với thời gian hoạt động quy định là 20 năm tính từ ngày 21 tháng 01 năm 1875, ngày ký ban hành Sắc lệnh thành lập.

Trước tiên, Ngân hàng mở hai chi nhánh ở Sài Gòn và Pondichéry[2]. Sau đó, căn cứ nghị quyết của Hội đồng Quản trị đuợc Bộ Thuộc địa thông qua, Ngân hàng có thể mở chi nhánh tại một địa điểm bất kỳ ở Viễn Đông và quản lý theo luật của nước Pháp.

Ngoài ra, Ngân hàng có thể mở chi nhánh tại các bến cảng của Trung Hoa, Nhật Bản và Đông Ấn.

Đoạn II. Vốn cổ phần

Điều 3. Vốn điều lệ của Công ty quy định là 8.000.000 phơ răng, chia thành 16.000 cổ phần mệnh giá 500 phơ răng. Đại hội đồng có thể ban hành quyết định tăng vốn điều lệ nếu được Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa phê chuẩn. 

Trong trường hợp này, những người nắm giữ cổ phần phát hành lần đầu được ưu tiên mua cổ phần mới.

Trước khi thành lập Công ty, mỗi người mua đóng 125 phơ-răng/cổ phần. Khoản nộp lần 2 trị giá 125 phơ răng/cổ phần tiến hành trong thời hạn 2 tháng sau khi có thông báo của Hội đồng quản trị nếu Hội đồng xét thấy cần thiết.

Hội đồng quản trị quy định thời hạn nộp toàn bộ hay một phần số tiền 250 phơ răng còn lại để hoàn tất việc mua cổ phần.

Cổ phần được ký danh cho đến khi hoàn tất việc mua bán, sau đó, cổ phiếu được lấy ra từ sổ có cuống (để trao cho người mua), có chữ ký của hai thành viên hội đồng quản trị.  Tuy nhiên, số tiền nộp lần 1 trị giá 125 phơ răng được xác nhận bằng việc cấp biên lai tạm thời.

Điều 4. Hội đồng Quản trị có quyền phát lệnh chào bán những cổ phần đã đặt mua nhưng không nộp đủ tiền.

Hoạt động giao dịch cổ phần được tiến hành trong vòng 10 ngày, sau khi thông báo cho cổ đông nộp muộn được đăng trên hai nhật báo tại Paris (chuyên công bố các văn bản của Công ty).

Hoạt động giao dịch được tiến hành tại Thị trường chứng khoán Paris thông qua nhân viên môi giới (mọi rủi ro do cổ đông nộp muộn chịu) mà không cần giấy phép hoặc thông báo đòi nợ của toà án. 

Cổ phiếu trong tay người nắm giữ (nhưng đã được Ngân hàng bán lại) trở thành vô giá trị. Ngân hàng sẽ phát hành cổ phiếu mới có cùng số cho người mua lại.

Những biện pháp quy định tại điều này không ngăn cản Công ty thực hiện quyền chống lại người đăng ký mua cổ phần.

Sau khi thanh toán số tiền nộp muộn, nếu tiền bán cổ phiếu vẫn còn thì số dư này thuộc về cổ đông đầu tiên nắm giữ cổ phiếu đó.

Điều 5. Mọi cổ phần không được thanh toán đầy đủ theo yêu cầu sẽ bị chấm dứt giao dịch hoán đổi.

Mọi khoản nộp muộn mặc nhiên bị Ngân hàng tính lãi 6%/năm kể từ ngày đến hạn mà không cần phán quyết của toà án.  

Điều 6. Cổ phiếu dán tem thuế của Công ty. Cổ đông được lựa chọn cổ phiếu ghi danh hoặc cổ phiếu vô danh sau khi đã thanh toán đầy đủ.

Điều 7. Hội đồng quản trị quy định phương thức chuyển nhượng cổ phiếu ghi danh. Cổ phiếu vô danh được chuyển nhượng bằng hình thức trao tay.

Điều 8. Cấm chia nhỏ cổ phiếu. Công ty chỉ thừa nhận chủ sở hữu thông qua cổ phiếu.

Điều 9. Quyền lợi (gắn liền với cổ phần) sẽ đi theo cổ phiếu, không phân biệt người nắm giữ cổ phiếu đó.

Điều 10. Người sở hữu cổ phiếu được tham gia góp ý về điều lệ Công ty và các quyết định của Đại hội đồng.

Điều 11. Mỗi cổ phần cho phép người nắm giữ nó sở hữu một phần tài sản và được chia một phần lợi nhuận, theo tỷ lệ trên tổng số cổ phần đã phát hành.

Điều 12. Cổ tức ghi danh hoặc vô danh được thanh toán hợp thức cho người nắm giữ.

Điều 13. Trong mọi trường hợp, người thừa kế, đại diện hoặc chủ nợ của cổ đông không được bóc băng niêm phong trên tài sản và chứng khoán của Công ty, yêu cầu phân chia hoặc bán cả lô tài sản và chứng khoán đó, cũng như không tự ý can thiệp vào hoạt động quản lý của Công ty.

Đoạn III. Hoạt động của Ngân hàng

Điều 14. Trong mọi trường hợp, Ngân hàng không được thực kiện bất kỳ giao dịch nào ngoài những giao dịch quy định tại điều lệ này.

Điều 15. Ngân hàng chỉ thực hiện các giao dịch tài chính liên quan đến Nam Kỳ và Đông Ấn Pháp, bao gồm:

  1. Phát hành chứng khoán nợ vô danh mệnh giá 1.000 phơ răng, 500 phơ răng, 100 phơ răng, 20 phơ răng và 5 phơ răng.

Tuy nhiên, tạm thời tại mỗi thuộc địa, Ngân hàng có thể phát hành chứng khoán nợ bằng đồng tiền địa phương với mệnh giá tương đương.

Chứng khoán nợ do chi nhánh hoặc văn phòng đại diện (đã phát hành chứng khoán) hoàn trả. Tuy nhiên, chứng khoán nợ mệnh giá 5 phơ-răng chỉ được hoàn trả theo nhóm 25 phơ-răng. Bộ trưởng Thuộc địa và Hải quân cho phép phát hành chứng khoán nợ 5 phơ-răng, sau khi có ý kiến của Bộ trưởng Tài chính.

Chứng khoán nợ được Công quỹ và các cá nhân trên toàn lãnh thổ thuộc địa tiếp nhận như đồng tiền chính thức.

  1. Chiết khấu kỳ phiếu có 2 hoặc nhiều chữ ký xác nhận khả năng thanh toán, với kỳ hạn không quá 120 ngày.
  2. Lập, chuyển đổi, chiết khấu hoặc mua hối phiếu, tín phiếu hoặc séc trực tiếp hoặc theo lệnh tại thuộc địa, Chính quốc hay ở nước ngoài. Đối với hối phiếu, tín phiếu có kỳ hạn xác định, kỳ hạn thanh toán không quá 120 ngày. Đối với hối phiếu, tín phiếu có kỳ hạn không xác định, kỳ hạn thanh toán được quy định như sau:

– 90 ngày kể từ ngày nhìn thấy (ngày chấp thuận) hối phiếu hoặc tín phiếu đối nội;

– 180 ngày kể từ ngày nhìn thấy hối phiếu hoặc tín phiếu đối ngoại.

  1. Chiết khấu trái phiếu có hoặc không thể chuyển đổi.
  2. Bằng chứng chỉ bảo quản hoặc biên lai hàng hoá lưu kho tại các nhà kho chuyên dụng (chìa khoá nhà kho gửi tại Ngân hàng) hoặc tại các nhà kho của Ngân hàng;
  3. Bằng việc thế chấp nông sản chưa thu hoạch;
  4. Bằng các vận đơn theo lệnh có ghi chuyển nhượng kèm theo giấy tờ bảo đảm;
  5. Bằng giấy cầm cố hợp pháp (mệnh giá bằng đồng phơ-răng), được Ngân hàng Pháp tạm ứng;
  6. Bằng cách ký gửi vàng thỏi, tiền vàng hoặc đồ vật bằng vàng, bạc, đồng.
  7. Mua, bán nguyên liệu vàng, bạc hoặc đồng.
  8. Nhận tiền gửi các loại có hoặc không tính lãi; chứng khoán, thỏi, tiền và nguyên liệu vàng, bạc hoặc đồng. Tổng giá trị hàng ký gửi có tính lãi không được vượt quá tổng số vốn nộp vào ngân hàng. Trong mọi trường hợp, mức lãi suất áp dụng với loại giao dịch này không quá 1/2 mức lãi suất chiết khấu.

Ngân hàng tại Paris cùng các chi nhánh và văn phòng đại diện cũng thực hiện các giao dịch dưới đây:

  1. Thu và thanh toán kỳ phiếu cho các cá nhân hoặc cho các công sở, thanh toán mọi tín phiếu và lệnh phiếu;
  2. Nhận tiền, hiện vật từ các cuộc quyên góp tại thuộc địa hoặc Chính quốc, sau khi được Bộ trưởng Bộ Hải quân hoặc Toàn quyền cho phép;
  3. Phát hành chứng khoán nợ hối phiếu hoặc tín phiếu;
  4. Cấp thư tín dụng;
  5. Cho tiến hành chiết khấu hối phiếu hoặc tín phiếu có 2 chữ ký, được bảo đảm bằng vận đơn đường biển theo lệnh tại Pháp hoặc nước ngoài và có ghi chuyển nhượng hợp thức vào mặt sau cùng các giấy tờ bảo đảm;
  6. Cho mua nguyên liệu hoặc các loại tiền vàng, bạc, đồng tại Pháp hoặc nước ngoài.

Điều 16. Một trong những chữ ký yêu cầu tại điều 15 có thể thay bằng việc:

– Ký gửi chứng khoán nợ quy định tại điều 15;

– Nộp chứng chỉ bảo quản, biên lai hoặc phiếu gửi hàng;

– Thế chấp nông sản chưa thu hoạch theo các điều kiện dưới đây;

– Ký gửi vàng thỏi, tiền vàng, đồ vật bằng vàng, bạc, đồng nếu đó là kỳ phiếu hoặc trái phiếu không thể giao dịch hoán đổi;

– Bằng vận đơn đường biển đặc biệt, nếu đó là hối phiếu hoặc tín phiếu không có kỳ hạn thanh toán.

Chữ ký còn lại có thể thay bằng tờ khai chấp thuận từ trước do người thanh toán hối phiếu hoặc tín phiếu gửi cho ngân hàng.

Điều 17. Hội đồng quản trị ban hành nội quy trong đó xác định hạn ngạch (quota) và giá trị hiện vật hoặc giấy tờ thay thế một trong hai chữ ký được Ngân hàng chấp nhận khi chiết khấu chứng khoán nợ, hối phiếu hoặc trái phiếu. Hạn ngạch không vượt quá:

– Thời giá do các nhân viên môi giới lập đối với hàng hoá ký gửi hoặc uỷ thác;

– Tổng giá trị đối với tiền vàng, tiền bạc hoặc vàng thỏi;

– Giá trị theo trọng lượng và độ chuẩn, nếu đó là đồ vật bằng vàng và bạc;

– 1/3 giá trị nông sản;

– 4/5 giá trị giấy tờ (theo bảng thị giá chính thức tại thuộc địa) đối với công trái Nhà nước, 3/5 đối với các giấy tờ có giá khác;

Ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá ký gửi hoặc uỷ thác nếu những hàng hoá trên đây không được ký gửi hoặc uỷ thác tại một công ty bảo hiểm do Ngân hàng uỷ nhiệm.

Điều 18. Kỳ phiếu do ngân hàng chiết khấu phải dán tem thuế, nếu Nam Kỳ và Đông Ấn Pháp đã áp dụng Luật thuế con niêm[2].

Điều 19. Ngân hàng chỉ cấp hối phiếu hoặc tín phiếu sau khi nhận tiền bảo chứng. Được coi như tiền bảo chứng:

– Một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần và vốn dự trữ;

– Tín dụng do một cơ sở tín dụng tại chính quốc (do Bộ Hải quân và Thuộc địa chỉ định, Ban Kiểm soát thông qua) mở.

Điều 20. Ngân hàng có thể cho cá nhân hoặc hợp tác xã nông nghiệp có tư cách pháp nhân dân sự vay tiền (thế chấp bằng nông sản) theo quy định tại Luật ngày 24 tháng 6 năm 1874.

Điều 21. Kỳ hạn trái phiếu không được giao dịch hoán đổi (trên cơ sở thế chấp nông sản) và có thể kéo theo việc mở một tài khoản vãng lai, có thể kéo dài cho đến khi thu hoạch xong.

Ngân hàng có quyền yêu cầu cất giữ nông sản (khi mùa vụ chưa kết thúc) tại các nhà kho theo luật định để biến khoản vay thế chấp nông sản thành khoản vay cầm cố.

Điều 22. Các kho hải quan, nhà kho Ngân hàng và mọi nhà kho khác (do Thống đốc chỉ định phục vụ hoạt động này) được coi là nhà kho công cộng. Tại đây, có thể lưu kho hàng hoá cầm cố phục vụ việc thanh toán bổ sung hiệu quả tổ hợp đầu tư của Ngân hàng. Tượng trưng cho hàng hoá là một biên lai hoặc chứng chỉ gửi hàng có thể ghi chuyển nhượng. Ngoài ra, chỉ cần bàn giao chìa khoá kho cho ngân hàng là đủ để hoàn thiện quy trình trao tay tài sản thế chấp lưu kho, nếu việc bàn giao được xác nhận hợp pháp bằng biên lai của giám đốc chi nhánh, có xác nhận của giám thị hành chính.

Điều 23. Đến kỳ hạn mà khách hàng không hoàn trả khoản vay thì 8 ngày sau khi có thông báo đòi nợ, các ngân hàng có quyền bán đấu giá: Hàng hóa hoặc nguyên liệu vàng, bạc cầm cố; giấy tờ có giá thế chấp mà không ảnh hưởng tới việc kiện tụng chống lại bên nợ cho đến khi ngân hàng được hoàn trả đầy đủ các khoản vay, kể cả vốn lẫn lãi.

Điều 24. Mọi giấy tờ thế chấp bằng cách cầm cố, thế chấp nông sản, chuyển nhượng hoặc bất kỳ phương thức nào khác làm lợi cho ngân hàng và mang lại tư cách chủ nợ cho ngân hàng đều được đăng ký vào mục bảo chứng cố định.

Điều 25. Người đặt mua, nhận, chuyển nhượng hoặc trao tặng hối phiếu ký trả cho ngân hàng hoặc giao dịch hoán đổi tại ngân hàng đều thuộc thẩm quyền xét xử của các toà án thương mại, theo tỷ lệ tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bất kỳ tài sản bảo đảm nào khác liên quan.  

Điều 26. Nếu việc thanh toán trái phiếu được bảo đảm bằng một trong các giấy tờ có giá quy định tại điều 14, 8 ngày sau khi có chứng thư kháng nghị hoặc thông báo đòi nợ, ngân hàng có thể bán hàng hoá hoặc giấy tờ có giá để bù lại khoản tiền cho vay.

Nếu việc thanh toán trái phiếu được bảo đảm bằng nông sản, ngân hàng có thể bán nông sản tại nơi thu hoạch hoặc đòi quyền sở hữu nông sản để sản xuất.

Điều 27. Nếu trái phiếu – thế chấp bằng một trong các giấy tờ có giá quy định tại đoạn 4, điều 14 – không phải trái phiếu theo lệnh, bên nợ có quyền thanh toán trái phiếu trước hạn và Ngân hàng phải hoàn trả khoản tiền lãi tính từ thời điểm thanh toán cho đến khi hết kỳ hạn trái phiếu cho bên nợ.

Điều 28. Tài sản bảo đảm bổ sung vào ngân hàng không gây trở ngại đối với việc ngân hàng kiện tụng chống lại người ký tên trên kỳ phiếu. Song song với việc bán tài sản thế chấp vì lợi nhuận của Ngân hàng, việc kiện tụng trên đây có thể tiếp tục cho đến khi khoản vay được hoàn trả toàn bộ, cả vốn lẫn lãi. 

Điều 29. Tiền chiết khấu được thu theo số ngày. Đối với kỳ phiếu thanh toán sau một số ngày nhìn thấy kỳ phiếu, có thể tính tiền chiết khấu dựa trên số ngày nhìn thấy. Và nếu phải thanh toán kỳ phiếu (tại địa điểm xuất trình kỳ phiếu để chiết khấu hoặc tại địa điểm ngoài thuộc địa), số ngày nhìn thấy kỳ phiếu phải cộng thêm một khoảng thời gian (tính toán dựa trên các khoảng cách).

Điều 30. Không chấp nhận bất kỳ khiếu nại nào đối với tiền gửi vãng lai tại Ngân hàng, tài khoản tiền gửi do Ngân hàng mở và phát sinh từ một giao dịch thế chấp nông sản theo quy định trên đây.

Điều 31. Ngân hàng quy định điều kiện mở tài khoản chiết khấu và tài khoản vãng lai thông qua bản nội quy.

Điều 32. Ngân hàng cấp biên lai đối với tài sản ký gửi tự nguyện tại đây: biên lai nêu rõ loại và giá trị tài sản ký gửi, tên và nơi ở của người gửi, ngày gửi, số sổ đăng ký….

Biên lai không phải vận đơn theo lệnh và không thể chuyển nhượng.

Ngân hàng thu phí trông coi dựa trên giá trị tài sản (đối với những tài sản ngân hàng chưa nhận được tạm ứng) theo quy định.

Trường hợp người ký gửi đề nghị thanh toán tạm ứng trước hạn, lệ phí trông coi đã nộp vẫn thuộc về Ngân hàng.

Điều 33. Tổng số hối phiếu lưu hành không quá 3 lần trữ kim.

Tổng số hối phiếu lưu hành, tài khoản vãng lai và các khoản nợ khác của Ngân hàng không được quá 3 lần vốn điều lệ và vốn dự trữ, trừ trường hợp đối giá của tài khoản vãng lai và các khoản nợ khác không được tượng trưng bằng tiền ký quỹ phát sinh từ việc tăng trữ kim.

Các loại hối phiếu đích danh và hối phiếu vô danh do Ngân hàng phát hành phải được Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa thông qua trước đó.

Điều 34. Hàng tháng, Ngân hàng công bố tình hình hoạt động trên công báo tại Paris. Mỗi chi nhánh ngân hàng cũng phải công bố hoạt động hàng tháng của mình trên công báo thuộc địa theo chỉ định của Toàn quyền.

Đoạn IV – Cổ tức và quỹ dự trữ

Điều 35 – 6 tháng 1 lần, vào các ngày 30-6 và 31-12, ngân hàng kết toán, cân đối sổ sách và lập báo cáo kết quả kinh doanh.

Trích lập quỹ dự trữ theo tỷ lệ 0.5% tổng số vốn đầu tư từ lợi nhuận sau thuế trong quý, tuy nhiên, phần trích ra không được thấp hơn 1/20 tổng lợi nhuận sau thuế.

Sau đó, phần cổ tức đầu tiên tương đương 6%/năm trên tổng số vốn đầu tư được chia cho cổ đông.

Điều 36 – Sau khi trích lập quỹ dự trữ, phần lợi nhuận còn lại được chia như sau:

10% lập quỹ tương tế;

10% cho hội động quản trị;

80% trả cổ tức thứ hai cho cổ phần.

Trường hợp lợi nhuận không đủ để chia cho cổ đông mức cổ tức 6%/năm, có thể tăng cổ tức (tối đa là 6% quỹ tương tế).

Tuy nhiên, chỉ tiến hành chia cổ tức sau khi được Bộ trưởng Thuộc địa và Hải quân phê duyệt.

Điều 37 – Hết kỳ hạn 5 năm, phần cổ tức đã chia nhưng không có người nhận sẽ được nhập vào Ngân hàng.

Điều 38 – Ngay sau khi Bộ trưởng Thuộc địa và Hải quân phê duyệt, cổ tức được thanh toán tại quầy thu ngân của Ngân hàng ở Paris và các chi nhánh.

PHẦN II. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGÂN HÀNG

Đoạn I. Đại hội đồng

Điều 39. Đại hội đồng đại diện cho toàn thể cổ đông.

Theo sổ sách của Ngân hàng, Đại hội đồng gồm 100 cổ đông lớn nhất. Trường hợp số cổ phần ngang bằng nhau, ưu tiên cổ đông ghi danh sớm hơn; nếu cùng ngày ghi danh, ưu tiên cổ đông nhiều tuổi hơn.

Tuy nhiên, những cổ đông không phải là người Pháp chỉ được coi là thành viên Đại hội đồng, nếu đã cư trú tại Pháp hoặc thuộc địa Pháp trong thời gian tối thiểu 5 năm.

Thay vì nộp cổ phiếu để dự họp Đại hội đồng, mỗi cổ đông được cấp một biên lai ghi danh dùng làm thẻ ra vào.

Điều 40. Không một ai được thay thế thành viên Đại hội đồng nếu không có giấy ủy quyền của thành viên đó.

Điều 41. Mọi quyết nghị của Đại hội đồng chỉ được thông qua với đa số số phiếu tán thành.

Điều 42. Hàng năm, Đại hội đồng nhóm họp vào tháng 5 tại trụ sở Công ty hoặc tại địa điểm ghi rõ trong giấy mời. Hội đồng quản trị triệu tập họp Đại hội đồng. Cuộc họp diễn ra dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hội đồng hoặc Phó Chủ tịch hay một thành viên được toàn thể Hội đồng chỉ định (trong trường hợp Chủ tịch vắng mặt).

Hai cổ đông lớn nhất có mặt tại phiên họp được bầu vào ban kiểm phiếu. Trường hợp họ từ chối, Đại hội đồng sẽ chỉ định người thay thế theo thứ tự số cổ phần và thứ tự đăng ký cho đến khi có người chấp thuận.

Điều 43. Đại hội đồng nghe báo cáo của Hội đồng quản trị về tình hình hoạt động của công ty và những vấn đề thuộc chương trình nghị sự;

Thảo luận, thông qua hoặc phủ quyết sổ sách kế toán;

Ấn định mức cổ tức phân phối theo quy định tại các điều 33 và 34 Điều lệ này.

Bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, theo đề cử của Hội đồng;

Thảo luận về những kiến nghị của Hội đồng quản trị liên quan đến tăng vốn điều lệ, mở rộng hoạt động của Công ty, sửa đổi điều lệ, gia hạn hoặc giải thể Công ty trước thời hạn cũng như những đề xuất đã hoặc chưa được nêu trong điều lệ Công ty.

Bổ nhiệm theo hình thức bỏ phiếu kín (nếu cần) với đa số phiếu tuyệt đối của các thành viên có mặt. Sau 2 vòng bầu cử, nếu không ứng viên nào đạt được đa số phiếu tuyệt đối, Đại hội đồng tiến hành bầu lại giữa 2 ứng viên có số phiếu bầu cao nhất ở vòng 2.

Trường hợp số phiếu vẫn ngang bằng nhau, ứng viên lớn tuổi hơn sẽ trúng cử.

Điều 44. Các nghị quyết của Đại hội đồng tại cuộc họp đầu tiên chỉ có giá trị nếu có ít nhất 20 thành viên dự họp hoặc cử người đại diện tham gia phiên họp đồng thời tổng số cổ phần của những người dự họp chiếm 1/4 số cổ phần đã phát hành.

Trường hợp không đủ số đại biểu và tỷ lệ cổ phần như trên, cuộc họp Đại hội đồng được triệu tập lần 2, cách lần triệu tập thứ nhất 15 ngày, và các thành viên có mặt tại cuộc họp lần 2 chỉ biểu quyết về những nội dung đã nêu trong chương trình nghị sự của cuộc họp thứ 1, bất kể số lượng là bao nhiêu.

Điều 45. Đại hội đồng được phép triệu tập đột xuất theo lệnh của Hội đồng quản trị, nếu xét thấy cần thiết. Hội đồng quản trị chỉ triệu tập họp Đại hội đồng bất thường nếu thấy cần thiết.

Đại hội đồng phải được triệu tập họp bất thường trong một số trường hợp sau:

  1. Khi các cổ đông sở hữu tối thiểu 1/3 số cổ phần gửi văn bản yêu cầu (nêu rõ lý do) lên Hội đồng quản trị. Trong trường hợp này, Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Đại hội đồng trong thời hạn 2 tháng.
  2. Trong trường hợp giao dịch ngân hàng thua lỗ làm giảm một nửa số vốn.

Điều 46. Giấy mời họp thường niên và bất thường được gửi đến cổ đông-thành viên Đại hội đồng theo địa chỉ nhà riêng. Thông báo triệu tập đăng trên 2 nhật báo (chịu trách nhiệm công bố hoạt động của Công ty) tối thiểu 15 ngày trước khi diễn ra phiên họp.

Trên thư và thông báo ghi ngắn gọn nội dung triệu tập. Mọi cổ đông (muốn đệ trình kiến nghị lên Đại hội đồng) phải thông báo việc này cho Hội đồng quản trị 20 ngày trước khi diễn ra phiên họp để Hội đồng xem xét có nên đưa vào chương trình nghị sự hay không. Mọi vấn đề nằm ngoài chương trình nghị sự sẽ không được đưa ra bàn thảo. 8 ngày trước cuộc họp, tại trụ sở Công ty, mỗi cổ đông sẽ nhận được bản báo cáo tóm tắt về tình hình hoạt động của Ngân hàng.

Điều 47. Những phiên họp của Đại hội đồng về việc sửa đổi hoặc về điều lệ về đề xuất kéo dài thời gian hoạt động hoặc giải thể Công ty trước hạn, chỉ được tổ chức một cách hợp pháp và ban hành nghị quyết khi số cổ đông tham dự nắm giữ tối thiểu một nửa số vốn điều lệ. Thông báo triệu tập phải chỉ rõ địa điểm họp. Tuy nhiên, nếu Hội đồng quản trị triệu tập họp Đại hội đồng lần 2 như quy định tại điều 45 trên đây, mọi nghị quyết của hội đồng đều có giá trị, bất kể số người dự họp là bao nhiêu.

Điều 48, 49. Mọi nghị quyết hợp lệ của Đại hội đồng đều mang tính chất bắt buộc đối với toàn thể cổ đông, kể cả cổ đông vắng mặt hoặc bất đồng quan điểm.

Mọi nghị quyết đều được ghi nhận bằng biên bản đăng ký vào một cuốn sổ đặc biệt có chữ ký của Chủ tịch, thành viên ban kiểm phiếu và thư ký. Cuốn sổ này để tại trụ sở Công ty. Phiếu điểm danh (xác nhận số thành viên dự họp và số cổ phần của họ), có chữ ký của những cá nhân như trên, được đính kèm bản gốc biên bản.

Đoạn II. Hoạt động quản lý, điều hành và giám sát

Điều 50. Ngân hàng Đông Dương do một Hội đồng Quản trị gồm tối thiểu 8 thành viên và tối đa 15 thành viên điều hành. Thành viên Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bổ nhiệm theo đề xuất của Hội đồng. Giúp việc cho Hội đồng Quản trị còn có một ủy viên Chính phủ.

Điều 51. Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Đông Dương gồm các chủ ngân hàng lớn của Pháp như: Ngân hàng Kỹ nghệ (Crédit industriel), Chiết khấu Ngân hàng (Comptoir d’Escompte), Ngân hàng Lyông (Crédit lyonnais), Địa ốc Ngân hàng (Crédit Foncier), Ngân hàng Paris và Hà Lan (Banque de Paris et des Pays-Bas)…

Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Quản trị là 5 năm và có thể kéo dài theo tỷ lệ 2 thành viên/năm. Thành viên bị bãi nhiệm theo hình thức rút thăm và có thể được tái cử.

Trường hợp thành viên nào đó từ trần hoặc từ chức, Hội đồng có quyền chỉ định người thay thế cho tới khi diễn ra đại hội cổ đông. Thành viên dự khuyết được lựa chọn trong số cổ đông và chỉ tại chức theo đúng nhiệm kỳ giao cho người tiền nhiệm.

Điều 52. Khi nhậm chức, mỗi thành viên phải chứng minh được họ nắm giữ 40 cổ phần. Những cổ phần này phải được thanh lý và không chuyển nhượng trong thời gian thành viên còn đương chức.   

Điều 53. Thành viên Hội đồng Quản trị được cấp thẻ hiện diện với số tiền do Đại hội đồng quy định. 50% tiền lãi cấp cho các thành viên theo điều 34 được phân chia thành các thẻ hiện diện. 

Điều 54. Hội đồng có quyền hạn tối cao trong việc quản trị Ngân hàng; biểu quyết mọi hoạt động của Ngân hàng; xây dựng nội quy, quy chế của Ngân hàng; ấn định tỷ lệ chiết khấu, lãi suất, thuế, tiền hoa hồng, cách thức định giá vàng, bạc, tiền tệ, hàng hóa…

Theo quy định tại điều lệ, Hội đồng cho phép tiến hành cũng như quy định điều kiện thực hiện mọi giao dịch của Ngân hàng.                

Hội đồng lựa chọn kỳ phiếu hoặc tài sản thế chấp có thể chiết khấu mà không cần giải thích lý do từ chối; đưa ra quyết định về những chữ ký phải có trên hối phiếu, về việc rút và huỷ hối phiếu;

Hội đồng cho phép Ngân hàng ký kết mọi hiệp ước/thoả thuận, giao dịch, sử dụng vốn, chuyển công trái và các loại chứng khoán cho Nhà nước, mua nợ và tài sản vô hình khác, chuyển nhượng những tài sản trên đây có hoặc không có tiền đặt cọc, bãi bỏ quyền cầm cố hoặc các đặc quyền, bãi bỏ vật quyền và trái quyền, giải trừ đăng ký thế chấp có hoặc không thanh toán. Ngoài ra, Hội đồng Quản trị còn có một số quyền hạn như:

– Tiến hành các vụ kiện với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, tham gia các thỏa ước xử lý nợ, trưng dụng và chuyển nhượng công thự, các khoản vay và luật cầm cố;

– Chấp thuận yêu cầu chuyển nhượng nhà cửa và những loại tài sản khác trong điều kiện quy định, mọi hoạt động và công việc liên quan đến Ngân hàng, gia hạn và truy thu các khoản nợ, thương phiếu và chứng khoán các loại của Ngân hàng; giám sát việc Ngân hàng có tiến hành các hoạt động sai quy chế và nội quy của chính Ngân hàng đề ra hay không; triệu tập đại hội cổ đông, quyết định chương trình nghị sự và những vấn đề được đưa ra biểu quyết.

– Quy định cơ cấu tổ chức các phòng ban, lương và tiền thù lao của nhân viên và những khoản chi chung của Hội đồng.

Hội đồng được phép ủy nhiệm toàn bộ hoặc một phần quyền hạn.

Điều 55. Hội đồng bầu 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch và 1 thư ký. Mọi biên bản họp của Hội đồng đều có chữ ký của Chủ tịch và thư ký.

Điều 56. Hội đồng nhóm họp tối thiểu một lần/tháng tại trụ sở của Ngân hàng. Tuy nhiên, Hội đồng cũng có thể tiến hành họp bất thường khi Ngân hàng hoặc ủy viên Chính phủ yêu cầu.

Điều 57. Nghị quyết chỉ có giá trị khi có ít nhất 5 thành viên có mặt và được thông qua theo đa số thành viên có mặt. Trường hợp số phiếu bằng nhau, lá phiếu của Chủ tịch Hội đồng sẽ mang tính quyết định.

Thành viên vắng mặt có thể ủy quyền cho đồng nghiệp tham dự các buổi thảo luận của Hội đồng.

Điều 58. Báo cáo về hoạt động của Ngân hàng phải được trình lên Đại hội đồng. Báo cáo được sao gửi cho Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa.

Điều 59. Hội đồng Quản trị bổ nhiệm và quy định mức lương của giám đốc phụ trách quản lý các hoạt động của Ngân hàng, sau khi Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa chấp thuận. Những giám đốc này đại diện cho Công ty trong việc thực thi các quyết định của Hội đồng đối với người ngoài (người thứ ba).

Điều 60, 61. Nhân danh Hội đồng Quản trị, những giám đốc này được phép khởi kiện hoặc truy tố trước pháp luật song tuyệt đối không được hành nghề kinh doanh.

Điều 62. Khi nhậm chức, các giám đốc phải chứng minh họ nắm giữ 40 cổ phần. Những cổ phần này không được chuyển nhượng trong thời gian họ đương chức và được gửi vào quỹ của ngân hàng.

Điều 63. Quyết định thành lập tại mỗi chi nhánh một hội đồng chiết khấu, theo đó, thành phần, quyền hạn và lương bổng của hội đồng này sẽ do Hội đồng Quản trị quy định.

Đoạn III – Uỷ viên Chính phủ và giám thị hành chính 

Điều 64. Quyết định lập chức ủy viên Chính phủ tại Ngân hàng Đông Dương, vị trí này do Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa bổ nhiệm.

Điều 65. Ủy viên Chính phủ được mời tham dự mọi phiên họp của Hội đồng Quản trị; giám sát việc thực thi điều lệ, quy định của Ngân hàng; giám sát toàn bộ các bộ phận của Ngân hàng; xem xét thực trạng ngân quỹ, sổ sách, tổng lượng kỳ phiếu…; đề xuất các biện pháp và trực tiếp cho ý kiến lên tập lưu nghị quyết của Hội đồng Quản trị.

Điều 66. Hàng tháng, ủy viên Chính Phủ trình báo cáo về hoạt động của Ngân hàng lên Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa dựa trên bản sao chứng thực các biên bản họp của Hội đồng Quản trị và bảng kê hàng tháng của Ngân hàng và của mỗi chi nhánh.

Trường hợp ủy viên vắng mặt, Bộ trưởng sẽ chỉ định một ủy viên dự khuyết.

Điều 67. Tại mỗi chi nhánh của Ngân hàng sẽ có một giám thị hành chính do Bộ trưởng bổ nhiệm.

Điều 68. Giám thị hành chính đảm nhiệm chức trách theo quy định tại điều 66 giống như ủy viên Chính phủ. Họ được phép liên hệ với Thống đốc và Bộ trưởng và trình báo cáo hàng háng về công việc giám sát của họ.

Trường hợp giám thị hành chính từ trần hoặc từ chức, Thống đốc sẽ chỉ định người tạm quyền.

Điều 69. Tiền lương của ủy viên và giám thị hành chính do Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa quy định và Ngân hàng thanh toán.

Điều 70. Bộ trưởng và Thống Đốc có thể tự yêu cầu hoặc theo yêu cầu của Ủy ban giám sát các ngân hàng thuộc địa việc nhân viên kiểm tra sổ sách, ngân quỹ và hoạt động của Ngân hàng.

PHẦN III. QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 71. Trường hợp tiền vốn của Ngân hàng giảm 2/3 do thất thoát, ngân hàng đương nhiên bị giải thể.

Trường hợp cũng do nguyên nhân trên, số vốn của Ngân hàng giảm 1/3, đại hội cổ đông sẽ tiến hành họp bất thường để yêu cầu giải thể. Yêu cầu này chỉ có hiệu lực nếu đa số thành viên tán thành và họ là những người nắm giữ 2/3 số vốn của Ngân hàng. Chính phủ cân nhắc lợi ích chung của thuộc địa và lợi ích của các bên thứ ba để đi đến quyết định giải thể ngân hàng hoặc không. Tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh giải thể sau khi có ý kiến của Uỷ ban giám sát các ngân hàng thuộc địa và Hội đồng Nhà nước.

Điều 72. Trường hợp xảy ra tranh cãi, mọi cổ đông buộc phải chọn trú quán tại Paris. Trong trường hợp việc lựa chọn trú quán không diễn ra, mọi văn bản, giấy báo, lệnh đòi ra tòa và các văn bản ngoài tòa phải được tống đạt tại Viện Công tố cạnh Tòa Sơ thẩm Seine.

Chỉ những tòa án dọc bờ sông Seine mới đủ thẩm quyền đưa ra phán quyết đối với những vướng mắc nảy sinh giữa các hội viên và Hội đồng Quản trị.

Điều 73. Hai năm trước khi chấm dứt thời hạn ưu tiên các đặc quyền đối với Ngân hàng, Đại hội đồng được triệu tập để quyết định việc có nên yêu cầu Chính phủ gia hạn các đặc quyền này hay không”.

Kể từ sau khi ra đời và đi vào hoạt động, Ngân hàng Đông Dương đã trở thành chỗ dựa tài chính lớn nhất của giới tư bản Pháp và nền thương mại Pháp ở Viễn Đông, nhờ đó nền thương mại Pháp có thể cạnh tranh với nền thương mại Anh và Đức ở vùng này, đồng thời giúp soái phủ Nam Kỳ đẩy nhanh quá trình thôn tính toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia, từ đó ra sức bóc lột thuộc địa, làm giàu cho chính quốc.

Hoàng Hằng

Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

[1] Công báo Nam Kỳ 1875, J 28, tr. 119-135, hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

[2] Một địa danh ở Ấn Độ.

[3] Luật Thuế con niêm hay còn gọi là Luật Tem thuế

 

Liên Hệ Phòng Đọc

Điện thoại:(84-4) 37822545 - Ext: 208

Email:luutruquocgia1@gmail.com

Yahoo:

Skype:

909271 truy cập

72 trực tuyến

Liên kết Website

© Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia I
Số giấy phép: 173/GP-TTDT, cấp ngày: 10/12/2015
Chịu trách nhiệm: Ths. Trần Thị Mai Hương - Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia I
Địa chỉ: 18, Vũ Phạm Hàm, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.37822545; Fax: 04.38255614