05:55 PM 12/06/2019  | 

Trần Văn Chánh (? - 1858) là cháu đích tôn của Thái phó Tân Thành Quận công Trần Văn Năng (1763 - 1834) - một vị tướng lừng danh của nhà Nguyễn từng nhiều lần mang quân dẹp giặc Xiêm khi chúng xâm lấn bờ cõi Đại Nam.

Sinh ra trong gia đình nhiều đời làm võ tướng, Trần Văn Chánh được hưởng ấm thụ của nội tổ[1] với chức Cai đội[2] tước Lương Tài Tử[3]. Cho đến nay, thông tin về ông còn rất hạn chế, tuy nhiên qua tra cứu tài liệu Châu bản hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, ta phần nào biết được thông tin quan trọng về ông. Đặc biệt qua đó biết được Trần Văn Chánh là vị Cai đội hy sinh đầu tiên khi những phát súng xâm lược của Thực dân Pháp nổ ra tại Đà Nẵng năm 1858, mở màn cho cuộc chiến kéo dài gần 30 năm để chiếm trọn nước ta.

Trong lịch sử Việt Nam từ trước đến nay, nói về trận Pháp đánh Đà Nẵng năm 1858, có lẽ diễn biến trận đánh cũng như kết quả đã được ghi chép rất nhiều. Tuy nhiên, đó chỉ mới là những thông tin khá sơ lược và chúng ta không biết được chi tiết cụ thể của những trận này cũng như những tổn thất về con người bên phía quân triều đình trong trận ấy.

Trong khối Châu bản triều Nguyễn, chúng tôi tìm được Châu bản Tự Đức tập 378 tờ 71 đến tờ 73 là bản tấu của quân thứ Thị An[4] do Đào Trí[5] và Nguyễn Duy[6] soạn tấu để báo cáo với vua Tự Đức sau trận đánh với quân Pháp ngày 27 - 28 tháng 9 âm lịch (tức ngày 2 - 3 tháng 11) năm 1858. Nội dung Châu bản cho biết trong trận này, về phía quân triều đình có một người bị tử trận đó là Cai đội Trần Văn Chánh, tuy nhiên về phía quân Pháp bị tổn thất khá nhiều. Xin giới thiệu bản dịch nội dung Châu bản này như sau:

Châu bản Tự Đức tập 378, tờ 71 -73. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Nội dung

Quân thứ Thị An thần Đào Trí, thần Nguyễn Duy kính cẩn tấu trình:

          Ngày 24 tháng này, chúng thần mật phái Bang biện Phó quản cơ Nguyễn Văn Tiến dẫn theo 53 binh Chiến Tâm, 4 binh Thần cơ, Cảnh tất, 2 dân Thủy Dũng, tiến qua xã An Hải hiệp cùng với viên được phái đi trước đó là Suất đội Dương Tuy cùng với 35 biền binh ngăn giữ nơi hiểm yếu.

Ngày 27 (...)[7] Dương Tuy cùng với Quyền sung Suất đội (...) đến chợ do thám. Đến khắc Mùi[8] thấy bọn Tây đi 2 chiếc thuyền sam bản ghé vô chợ ấy, liền sức cho người báo cho Nguyễn Văn Tiến tập hợp binh tướng chia làm 3 đạo sắp đặt mai phục đánh dẹp, thấy bọn lính Tây ước chừng hơn 20 tên lăn pháo lên bờ đến gần chỗ phục binh ấy, y liền phất cờ hiệu lệnh cho các đạo phục binh đồng loạt nổi lên hỗn chiến. Đến khoảng khắc Thìn[9] có Đội trưởng Nguyễn Văn Triêm sấn tới trước đâm chết 1 lính Tây, binh lính theo đó cũng sấn tới đâm giết, bọn Tây thối lui. Nguyễn Văn Triêm, Dương Tuy sấn vào chém thủ cấp giao cho binh lính, đốc suất pháo thủ. Văn Triêm thâu được 1 đoản đao của giặc, 1 cái nón. Ngoại ủy Đội trưởng Trần Văn Chiếu, Dương Văn Hoài, binh Huỳnh, binh Thạch, binh Lịch, binh Tự mỗi người bắn trúng một tên giặc ngã. Binh Phụng chém trúng một bên vai, binh Lục tiếp đến chém giặc té xuống. Binh Lượng chém trúng một tên giặc, tên giặc ấy chém lại trúng mày Lượng chảy máu, tên ấy cố gắng đuổi theo lại chém trúng giặc 1 nhát làm hắn ngã gục. Dìu binh Lượng chạy về, binh Triêm, binh Ngôn, binh Lễ đều đến chém chết được 1 lính Tây. Binh Quấy, binh Chi, binh Dược cũng chém được 1 lính Tây. Binh Đài, binh Đắc, binh Hiền cũng dự thêm vào chém gục giặc, đều chưa cắt đứt thủ cấp, bỗng nghe Chánh đội trưởng Châu Văn Cưu kêu báo cho biết bọn giặc ấy tăng viện đến 4 chiếc sam bản để ứng cứu (...) Trần Văn Chánh ngay lúc đó bị tử trận. Bọn họ tự lượng thấy lực lượng ít không địch lại tức thời thâu quân về, (...) binh đi tìm những viên bị thất lạc, cắt lấy tai của giặc, vừa rút vừa bắn. Lúc ấy binh Kỳ lại bắn trúng 1 tên giặc ngã xuống, bọn giặc ấy bắt đầu yểm trợ nhau rút về, đốt cháy chợ ấy. Nhà dân lấy nước dập lửa, viên quản đồn họ Nguyễn dẫn đường cho binh lính đến đó hỗ trợ. Xong việc trời đã tối, cả nhóm dẫn nhau về đồn. Kiểm lại trong số biền binh thấy có viên tình nguyện sai phái là binh Kỳ Võ - Trần Văn Giá không biết bị lạc đâu mất. Đem Trần Văn Chánh về chôn cất còn Trần Văn Giá không rõ tung tích.

Chúng thần lại sức cho Châu Văn Cưu và Nguyễn Đăng Thành tập hợp binh lính đi đến chỗ đó tìm lại một cái tai của giặc Tây đã bị cắt trước đó đem về nộp muối. Còn các xác chết đã bị bọn giặc kéo đi mất tìm không thấy. Cái tai đã cắt của tên giặc đã được đem tới cửa trước cửa quân treo lên để răn đe.

Lại đạo binh ấy lần đó hỗn chiến, có 1 tử trận 1 mất tích, cho đến chém được cùng bắn chết, đâm chết bọn giặc cùng với thu được nhẫn, nón, đồ vật của Tây tức thời mạo muội cứ đúng thực mà làm thành tập cung kính tấu trình.

Thần Đào Trí, Nguyễn Duy

Ngày 29 tháng 9 năm Tự Đức 11 (1858)

Tờ Tấu đến Kinh ngày mùng 1 tháng 10

Phụng chỉ: Sẽ có chỉ riêng, khâm thử!

 Sau khi nhận được tấu báo về việc tử trận của Cai đội Lương Tài tử Trần Văn Chánh. Ngày mùng 1 tháng 10 - tức là ngay khi nhận được tờ tấu báo của quân thứ Thị An, vua Tự Đức đã ban chế truy tặng cho Trần Văn Chánh là Tín nghĩa Đô úy, chư quân Phó Quản cơ[10], ban cho tên thụy là Tráng Nghĩa để tỏ rõ sự thương tiếc.

 

Ấn “Lương Tài tử chi ấn” đúc năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) cấp cho Cai đội Trần Văn Chánh. Nguồn: Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh

Chế truy tặng Cai đội Lương Tài tử Trần Văn Chánh là Tín Nghĩa đô úy Phó Quản cơ ngày mùng 1 tháng 10 năm Tự Đức 11 (1858). Nguồn: Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh

Cần nói thêm là tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang lưu giữ một bộ sưu tập với nhiều sắc ấn, chế phong của gia tộc Quận công Trần Văn Năng, trong đó đặc biệt có tờ chế ghi nhận công lao khi Cai đội Lương Tài tử Trần Văn Chánh tử trận mà chúng tôi vừa nêu trên. Bên cạnh đó còn có quả ấn Lương Tài tử được đúc vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) cấp cho Trần Văn Chánh. Niên đại đúc trên quả ấn giúp ta có thể suy luận về năm sanh của người được cấp ấn, bởi lẽ đến nay chúng ta cũng chưa có thông tin về năm sinh của Trần Văn Chánh. Căn cứ theo quy định được lập vào thời Minh Mạng về lệ ban Tập ấm cho con cháu bề tôi có công thì

... ấn, triện, kiềm cái, hộp để đóng dấu, do Bộ Lễ tư đưa người coi việc làm. Ấn dùng chất đồng, núm thẳng; kiềm cái dùng chất ngà, về phân tấc đều theo thứ bậc giảm bớt. Mặt ấn khắc chữ triện, đều dùng đất ăn lộc và tước phong, thí dụ như 5 chữ “Lương Tài hầu chi ấn” , kiềm cái khắc 2 chữ “Lương Tài”. Còn trường hợp khác đều do đấy mà suy.

Lại, công thần được dự phong ấy sau khi chết rồi, thì do Bộ Lễ tâu lên vua nghe, rồi doBộ Binh lấy lòng công xét nghiệm con đích trưởng, của viên chết ấy, tuổi đã 20 trở lên, quả có thể tập tước được, cứ thực tâu rõ, đợi chỉ tập phong”.[11]

Từ đó có thể thấy năm được ban ấm của ông là năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) thì ông ít nhất cũng phải 20 tuổi, tức ông sinh muộn nhất vào khoảng năm 1825. Và cũng theo đó thì năm 1858, ông hy sinh khi tuổi đời ít nhất là 33 tuổi.

          Cũng bởi Lương Tài tử Trần Văn Chánh mất đi nên Quận công Trần Văn Năng không người thờ tự. Chính vì lẽ đó mà vào năm Tự Đức thứ 21, nhân việc thứ tôn của Quận công Trần Văn Năng đệ đơn xin tập ấm, Nội các đã có tờ tâu, qua đó có nhắc việc Trần Văn Chánh bị chết trận và vợ con ông đang ở Gia Định chưa liên hệ được. Tờ tâu nầy thuộc Châu bản Tự Đức tập số 175, tờ số 136 - 137.

Châu bản Tự Đức tập 175, tờ số 136 - 137. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Nội dung:

Nội các tâu:

Ngày 9 tháng này, Bộ Lễ đem tấu tập về việc Trần Văn Vĩ là thứ tôn của Tiền quân đô thống phủ Chưởng phủ sự Lương Tài hầu, tặng Thái phó gia tặng Tân Thành quận công đã quá cố là Trần Văn Năng đệ đơn xin tập ấm.

Chúng thần vâng xét Vị quận công này vốn có công lao, lệ được nối đời tập ấm. Cháu nội là Trần Văn Chánh trước được ấm thụ Cai đội phong Lương Tài tử, viên đó theo quân đánh giặc bị chết trận, vợ con y sống ở Gia Định còn hay mất chẳng biết được, không còn thân tộc nào ở tại đây. tính ra Quận công ấy không có người thừa tự, quả thật đáng thương. Viên Quận công ấy có người cháu thứ là Trần Văn Vỹ đã qua bộ đó kiểm tra văn chữ tương đối thông thạo, hạnh kiểm tốt, nghĩ xin nên tham khảo theo trường hợp của Khai quốc công thần triều trước là Tân Minh hầu Nguyễn Cư Trinh có cháu thứ là Nguyễn Cư Khải được ban ơn.

Chuẩn theo lệ tập ấm cho y được thưởng thụ Chánh Đội trưởng (Chánh lục phẩm) để tạm coi việc thờ cúng Quận công. Sau nầy như dòng chánh có tìm trở về sẽ nộp đơn cho Bộ ấy.

Về việc Bộ này đề nghị cho tập phong tưởng cũng phù hợp, xin trình bày rõ.

Ngày 19 tháng 6 năm Tự Đức thứ 21 (1868)

Vâng chỉ: Y tấu. Khâm thử!

          Qua hai tờ Châu bản nói trên, chúng ta có thể thấy Lương Tài tử Trần Văn Chánh là cháu đích tôn của một dòng dõi võ tướng tài ba, tiếp nối truyền thống cha ông, Trần Văn Chánh không ngại xông pha nơi trận mạc khi đất nước gặp ngoại xâm và viên Cai đội ấy đã anh dũng hy sinh trong trận mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Việt Nam, ông cũng trở thành một trong những người Việt ngả xuống đầu tiên trong cuộc chiến ấy.

Bên cạnh đó chúng tôi thấy rằng Châu bản Tự Đức tập 378 tờ 71 đến tờ 73 là một Châu bản đặc biệt, vừa là châu bản trực tiếp nhắc đến việc tử trận của Cai đội Trần Văn Chánh, vừa mô tả chi tiết diễn biến trận đánh và những chiến công của quân đội nhà Nguyễn trong những ngày đầu chống Pháp với những con người cụ thể. Từ đó về sau, còn biết bao nhiêu người Việt yêu nước, bất kể là quan quân triều đình hay thứ dân nghĩa sĩ, sẳn sàng tiếp nối hy sinh thân mạng giành độc lập dân tộc. Những vị anh hùng ấy xứng đáng được con cháu đời đời tri ân và mãi mãi tôn vinh. 

Tài liệu tham khảo

1.     Quốc sử quán Triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 7. Nxb Giáo Dục.

2.     Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Đại Nam liệt truyện tập 3, Nhà xuất bản Thuận Hoá.

3.     Nội các Triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập IV. Nxb Thuận Hóa.

4.     Võ Hương An (2012), Từ điển nhà Nguyễn, Nam Việt xb.

[1] Nội tổ: Ông nội - tức tướng Trần Văn Năng.

[2] Cai đội: chức võ quan trật Chánh lục phẩm.

[3] Lương Tài tử: theo lệ tập ấm thời Minh Mạng, năm 1833 quy định: công thần được phong tước hầu thì nối đời được tập ấm 4 lần: con thì tập tước Bá, cháu thì tập tước Tử, cháu tằng tôn (cháu cố) thì tập tước Nam, cháu huyền tôn (cháu sơ) tập ấm chức Cẩm y hiệu úy. Do tướng Trần Văn Năng được phong Lương Tài hầu nên con được ấm thụ Lương Tài bá, cháu nội được ấm thụ Lương Tài tử.

[4] Quân thứ Thị An do Đào Trí làm Tổng thống đóng ở Đà Nẵng.

[5] Đào Trí lúc nầy giữ chức Tổng đốc Nam Ngãi

[6] Nguyễn Duy lúc nầy giữ chức Tán lý Đại thần

[7] (...) những chỗ nầy châu bản gốc bị hỏng, mất chữ, không đọc được.

[8] Khắc Mùi:  từ 13 - 15 giờ trưa

[9] Khắc Thìn: từ 7 -9 giờ sáng.

[10] Phó Quản cơ: chức võ quan trật Tòng tứ phẩm. Từ Cai đội Chánh lục phẩm truy tặng lên đến Phó Quản cơ tức được truy nâng lên 3 bậc.

[11] Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, sđd. Tr 121.

Nguyễn Thanh Thuận