10:09 AM 24/06/2019  | 

“Người học sinh tiêu biểu nhất cho các thế hệ học sinh yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX tại Trường Quốc Học Huế này là Nguyễn Sinh Cung sau này trở thành vị lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều học sinh của trường đã trở thành những nhà lãnh đạo ưu tú của Đảng và Nhà nước ta: Trần Phú, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu v.v…”

Cổng Trường Quốc Học đầu thế kỷ XX, nguồn: baothuathienhue.vn

Đối diện với Cửa Ngọ Môn bên kia sông Hương là Trường Quốc Học Huế. Ngôi  trường phổ thông nổi tiếng của Huế và cả miền Trung hơn 100 năm nay.

1. Vài nét về sự hình thành Trường Quốc Học Huế thời Pháp thuộc

Trường Quốc Học Huế thành lập theo Nghị định do viên Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau ký ngày 18-11-1896 và Dụ của nhà Vua ngày 16 tháng 9 năm Thành Thái thứ tám (2) thay thế cho Trường Hạnh Nhân dưới sự coi sóc của triều đình Nam Việt và chịu sự giám sát tối cao của Phủ Khâm sứ Trung kỳ (La Résidence supérieure en Annam).

Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thống dùng để giảng dạy trong trường đồng thời chữ Hán cũng được dùng song song với tiếng Pháp.

Học sinh được nhận vào học tại trường là những cựu học sinh của Trường Quốc Tử Giám và Trường Hạnh Nhân (phải đủ 15 tuổi nhưng không quá 20 tuổi) và phải trải qua một cuộc sát hạch chứng nhận đủ trình độ tiếng Pháp và chữ Hán để có thể tiếp thu tốt bài học.

Những trường hợp sau đây sẽ được hưởng những đặc quyền ở học đường:

   1. Những công tử (con cái trong hoàng tộc);

   2. Những ấm tử (con của các quan lại trong triều);

   3. Những cựu học sinh của Trường Hạnh Nhân;

   4. Những cựu học sinh của Trường Quốc Tử Giám.

Những học sinh này sẽ được chính quyền Nam Việt trợ cấp hoặc phụ cấp để học tập theo những qui chế đã định hiện hành. Những người tốt nghiệp xuất sắc trong kỳ thi ra trường sẽ được hưởng những đặc quyền theo chế độ do chính quyền Nam Việt chu cấp.

Ngoài những đối tượng nói trên, những trẻ em con cái của dân thường cũng có thể được nhận vào học trong trường với điều kiện phải đạt thành tích xuất sắc trong kỳ thi tuyển chọn vào trường và phải được Giám đốc chấp thuận.

Đội ngũ giáo viên của trường gồm có:

           1. Một Giám đốc;

           2. Một giáo viên hạng nhất;

           3. Một giáo viên hạng nhì;

           4. Một giáo viên hang ba;

           5. Một giáo viên hạng tư;

           6. Một giáo viên phụ trách phụ đạo (petits cours);

           7. Hai giám thị.

Giám đốc của trường do viên Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm theo đề nghị của Khâm sứ Trung Kỳ (Résident supérieur en Annam) với ý kiến chấp thuận của Hội đồng Cơ Mật (Conseil secret).

Giám đốc trường được nhận hàm cấp tương đương  trong ngạch quan lại và có thể quan hệ trực tiếp với Khâm sứ, Hội đồng Cơ Mật và các Bộ thượng thư khác trong triều. Giám đốc đầu tiên của trường là Ngô Đình Khả (cha của Ngô Đình Diệm), Thái thượng tự khanh, Chánh Tam Phẩm (3.1).

Dấu của trường làm bằng đồng đỏ (hoàng đồng) theo mẫu dấu của Trường Quốc Tử Giám, dấu lớn mang dòng chữ : “QUỐC HỌC TRƯỜNG QUANG PHONG”, dấu nhỏ mang dòng chữ: “QUỐC HỌC”.

Đến năm 1906, bằng một Nghị định mới do viên Toàn quyền Đông Dương Broni ký ngày 20-10-1906 (3) đã tổ chức lại hệ thống Trường Quốc Học như sau:

Hệ thống trường được chia thành hai hệ:

1.Trường Pháp: dạy học sinh là người Pháp hoặc tương đương (người lai hoặc có quốc tịch Pháp) được lập ở thị xã hoặc thị trấn, trường này nhận trẻ em từ 6 đến 13 tuổi. Chương trình học căn cứ theo luật ngày 30-10-1886 về tổ chức ngạch tiểu học ở chính quốc (nước Pháp);

2. Trường Pháp-Việt:  dạy các trẻ em từ 8 đến 14 tuổi, gồm có hai hệ:

         a. Hệ Tiểu học, gồm 4 cấp

                   - Sơ học;

                   -Tiểu học;

                   -Trung học;

                  - Cao đẳng.

b. Hệ Bổ túc Pháp-Việt: được chuyền từ Trường Hoàng gia Quốc Học và được chia thành 4 ban:

                  1. Ban Chức sắc

                  2. Ban Đạc điền;

                  3. Ban Sư phạm;

                  4. Ban Giáo dục đại cương.

Ở Ban một sẽ dần dần theo các khoá Sơ cấp để tuyển vào học Trường Pháp.

Với người bản xứ: đối với những người có chức sắc thì chính quyền Nam Việt xem xét về quan hệ của họ trong các cơ chế của bộ máy hành chính Pháp mà tuyển chọn vào học trong Trường Quốc Học.

Những người không có chức sắc thì bố trí cho học các ngành : Trắc đạc, Công chánh, Đường sắt, Giáo dục, Bưu điện…

Về hạn tuổi: đối với những người có chức sắc thì hạn tuổi là: từ 30 hoặc hơn (nếu là tú tài hoặc cử nhân), 35 tuổi hoặc hơn (nếu là phó bảng hoặc tấn sĩ), số này sẽ do triều đình Nam Việt thoả thuận với Khâm sứ lựa chọn và được miễn thi. Những người không có bằng sắc thì hạn tuổi tổi thiểu là 15 và không quá 20.

2. Dấu ấn của Bác Hồ tại Trường Quốc Học Huế thời tuổi trẻ

Báo “Sài Gòn giải phóng” số 2015 ra ngày 27-11-1981(4) đăng theo tài liệu của Thông tấn xã Việt Nam, nội dung như sau:

“Người học sinh tiêu biểu nhất cho các thế hệ học sinh yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX tại Trường Quốc Học Huế này là Nguyễn Sinh Cung sau này trở thành vị lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều học sinh của trường đã trở thành những nhà lãnh đạo ưu tú của Đảng và Nhà nước ta: Trần Phú, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu v.v…”

Việc Bác Hồ học ở Trường Quốc Học Huế đã được Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng thuộc Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh viết trong Lịch sử Đảng của Thành phố, được Báo “ Sài Gòn Giải phóng ” đăng trong số 2151 ra ngày thứ năm (13-5-1982), trong bài “Từ Huế đến Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước” như sau: “Khoảng 15, 16 tuổi, Nguyễn Tất Thành vào Huế lần thứ hai (khi đó cụ phó bảng Huy là Thừa biện ở Bộ Lễ). Người đã sớm hiểu biết và đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Tại Huế, Nguyễn Tất Thành đã tham gia công tác bí mật, nhận làm liên lạc giữa các sĩ phu yêu nước. Ngườì vào học ở Trường Tiểu học Đông Ba và sớm có ý thức muốn tìm hiểu văn minh Pháp, tìm hiểu xem đằng sau những từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” chứa đựng những điều gì. Với sự thông minh hiếm có, Người đã lên được lớp nhất vào niên khoá 1907-1908.

Cụ Lê Thiện (sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh) bạn cùng lớp, ngồi cùng bàn với Nguyễn Sinh Côn (tên chính thức của Bác khi học ở Trường Tiều học Đông Ba) thời đó kể rằng niên học năm 1907-1909 Trường Tiểu học Đông Ba có 10 người được chọn đi thi tốt nghiệp và có 7 người đỗ là:

         1. Nguyễn Sinh Côn;

         2. Nguyễn Đình Cảnh;

         3. Trần Kinh;

         4. Lê Viết Nhuận;

         5. Phan Văn Quế;

         6. Lê Thiện;

        7. Nguyễn Xuân Yến

Tháng 9-1908, trừ Nguyễn Đình Cảnh, còn lại 6 người đều vào học Trường Quốc Học Huế.”(4)

Như vậy ngôi trường Quốc Học Huế nổi tiếng của miền Trung từ trên 100 năm nay đã được công nhận là “Di tích Lịch sử Cách mạng quốc gia”, đã có lãnh tụ Hồ Chí Minh và những nhà lãnh đạo xuất sắc của nước ta theo học trong thời kỳ trai trẻ trước khi đi làm cách mạng giải phóng dân tộc./.

------------------------------------------

Chú thích:

1. Báo “Sài Gòn giải phóng”, số 2015, ra ngày 27-11-1981, đăng theo tài liệu của Thông tấn xã Việt Nam;

2. Công báo Đông Pháp phần 2 về Bắc Kỳ và Trung Kỳ năm 1896 (Journal officiel de l’Indochine française de l’Annam et du Tonkin,1896, 2è partie) trang 957, 958, 959;

3. Tập san Hành chính Trung Kỳ , năm 1906, trang 2008 (Bulletin administraf de l’Annam, 1906);

4. “Từ Huế đế Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước”, Báo “Sài Gòn giải phóng”, số 2151, ra ngày thứ năm (13-5-1982).   

Đinh Hữu Phượng