TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA 1

  • Tiếng Việt
  • Français
  • English

Cung Diên Thọ – Nơi lưu dấu phụ nữ hoàng gia triều Nguyễn

10:45 14/02/2019

Cung Diên Thọ 延壽宮nằm ở phía tây Tử Cấm thành trong Kinh thành Huế, phía trước cung Trường Sanh và phía sau điện Phụng Tiên. Cung Diên Thọ được dùng làm nơi ở và sinh hoạt hàng ngày cho Hoàng thái hậu, Thái hoàng thái hậu.

1. Quá trình xây dựng cung Diên Thọ

Đại Nam nhất thống chí ghi: Cung Ninh Thọ, đầu năm Gia Long là cung Trường Thọ, năm Minh Mạng thứ nhất (1820) đổi là Từ Thọ, đầu năm Tự Đức (1848) trùng tu đổi là Gia Thọ, năm Thành Thái thứ 13 (1901), dùng tên hiện nay1.

Tháng 4 năm 1804, Vua Gia Long hạ lệnh cho xây dựng cung Trường Thọ thay thế cho Hậu Điện để trở thành cung điện cho vị Vương thái hậu đầu tiên của triều Nguyễn. Công trình được thi công trong vòng 7 tháng thì hoàn thành, ngày 20 tháng 11 năm đó, nhà Vua thân hành đưa bà chính thức vào ở cung Trường Thọ.

Đại Nam thực lục, đệ nhất kỷ, quyển XXV, Thực lục về Thế tổ Cao hoàng đế ghi: “Ngày Giáp Tuất, rước thái hậu đến ở cung Trường Thọ. Vua thân đến chầu mừng. Các quan và các mệnh phụ đều làm giấy mừng và sắm lễ phẩm để dâng. (Các quan dâng 20 lạng vàng, 100 lạng bạc, các mệnh phụ dâng 10 lạng vàng, 50 lạng bạc). Từ đó hoặc 3 ngày, hoặc 5 ngày, vua thân đến thăm sức khỏe, giữ lễ quạt nồng ấp lạnh, chưa từng bỏ thiếu.

Ngày Bính Dần, năm Gia Long thứ 5 [1806], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng. Ngày Mậu Thân, Vua đem bầy tôi đến cung Trường Thọ, bưng sách vàng ấn vàng tôn Vương thái hậu làm Hoàng thái hậu. Sách văn rằng: “Trộm nghe hiếu trước hết phải ở lòng yêu, lễ không gì hơn tôn cha mẹ. Xét theo phép thường, đủ nêu lễ thịnh. Kính nghĩ, đức vương thái hậu bệ hạ, tiếng lành rộng khắp, cao vượt đời xưa. Nết tốt đức dày, cảnh nào vẫn thế. Khuôn phép chốn đình vi, ích lợi đến xã tắc. Phúc để con cháu, ơn kịp thần dân. Công chứa nhân chồng, ngày nay mới có. Cho nên thần mới theo lời bầy tôi, đã xưng đế hiệu, càng nhớ đến công dưỡng dục như trời không cùng, há dám không suy tôn để đáp ơn lớn ! Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu làm Hoàng thái hậu. Cúi xin nhận lấy hiệu to, cho nhiều phúc chỉ. Danh xứng với đức, sáng mãi như mặt trời mặt trăng; phúc tự trời cho, thọ mãi như núi sông gò đống”.

Năm 1811 sau khi bà mất, cung Trường Thọ cũng bị triệt giải để dùng gỗ xây dựng điện Thanh Hòa là nơi ở của vua Minh Mạng khi ông được phong làm Hoàng thái tử năm 1816.

 Năm 1820, Vua Minh Mạng lên ngôi, tôn phong thân mẫu Thuận Thiên Cao Hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, đồng thời cho đại trùng tu, xây dựng cung Từ Thọ trên nền cũ của cung Trường Thọ làm chỗ ở cho bà. Cung Từ Thọ lúc này được thiết kế với điện Diên Thọ ở trung tâm, quay mặt về hướng đông, với Trường Du tạ là một tiểu hoa viên duyên dáng dùng cho việc tiêu dao thưởng trà ngoạn cảnh. Sau khi bà Thuận Thiên Hoàng hậu qua đời vào năm 1846, cung Từ Thọ được chuyển giao cho bà Từ Dũ Hoàng thái hậu là mẹ của Vua Tự Đức. Ngày 4 tháng 9 năm 1848, Vua Tự Đức hạ lệnh triệt giải kết cấu cung Từ Thọ để xây dựng cung điện mới với kết cấu hoàn toàn khác và đổi tên thành cung Gia Thọ. Khi công trình được hoàn thành vào tháng 4 năm 1849, vua ban lời dụ: “Lần này dựng Tây cung để làm chỗ phụng thừa vui vẻ muôn năm, cung lan điện quế, phúc lộc bồi thêm; cửa ngọc thềm dao, nền nhân dựng mãi. Mong khi làm mới, hợp tình muôn người như con lại làm việc cho cha; tới lúc khánh thành, gặp tháng rất vui về tuổi thọ của trẫm. Bờ cõi thái hòa, rõ bày muôn phúc; cung đình Trường Lạc, ghi tốt nghìn thu. Lòng trẫm vui vẻ xiết bao ! Nay kính dâng tên cung gọi là cung Gia Thọ, điện sau gọi là điện Thọ Ninh, nhà tạ bên tả điện gọi là tạ Trường Du, cửa chính trước cung gọi là cửa Thọ Chỉ, để tỏ ra điều hay hợp ứng, phúc thọ hậu thêm, Thánh mẫu ta mãi hưởng phúc tốt lành, chính mình ta được sự mừng vui”2.

Trong Châu bản triều Nguyễn hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, có nhiều văn bản ghi chép về xây dựng, trùng tu và mở rộng khuôn viên cung Diên Thọ cũng như các hoạt động liên quan đến sinh hoạt thường ngày ở đây. Các vua triều Nguyễn thường xuyên cho sửa chữa, mở rộng cung Diên Thọ và dành khoản ngân sách riêng hàng năm cho việc này. Việc tu sửa này được ghi cụ thể qua các bản Tấu của Bộ Công. Chẳng hạn bản Tấu của Bộ Công ngày 20 tháng 02 năm Khải Định 2 (1917) báo cáo về việc tu sửa cung Diên Thọ như sau: Phụng xét ngân sách năm nay trong đó có dự trù 2300 đồng để tu bổ các điện, đường trong cung Diên Thọ. Nay Bộ thần đã cung kính kiểm tra cung chính của Tôn cung, thấy gỗ lạt hư hỏng, dột nát nhiều đã sức khám biên ghi án. Chỉ có điều tôn cung đã qua nhiều năm, nên cột kèo bị hư mục, khám kiểm khó thể chu đáo, nên việc dự trù tưởng cũng khó ấn định, vậy xin cho tháo dỡ ngói lợp nóc để kiểm tra cho thật rõ ràng rồi tu bổ lại, còn chi phí hết bao nhiêu tiền sẽ tiếp tục làm phiếu tâu lên3”. Châu đểm.

14.2.2019_001

Trang đầu bản Tấu của Bộ Công năm Khải Định thứ 2 (1917) báo cáo về việc tu sửa cung Diên Thọ

Bản Tấu của Bộ Lễ về tháng Giêng, khai xuân, có lễ Tết Nguyên đán, xin tuân lệnh trước đây, từ sáng sớm, Hoàng thượng dẫn văn võ thần công đến yết kiến cung Diên Thọ và cung Trường Ninh cung tiến tờ kim tiền, làm lễ chúc tết, lễ xong Hoàng thượng quay trở về điện Thái Hòa”. Bản Tấu của Bộ Lễ có nội dung: ngày mùng 1 tháng tới đúng dịp lễ sinh nhật của ta. Các lễ chúc mừng và ca múa đều miễn cử hành, còn các lễ theo y lệ cũ. 8 giờ sáng các quan mặc lễ phục đến Tôn cung Diên Thọ làm lễ thỉnh an. Chẳng hạn Châu bản triều Khải Định tập 02, tờ 53, 102, 103, 104, trong bản tấu Bộ Công có nói rằng: “Ngày 27 tháng này, tiến hành khởi công tu bổ cung Diên Thọ”.

Trong các ngày tết hay dịp khánh tiết hàng năm nhà vua đều đích thân đến cung Diên Thọ để chào hỏi, vấn an, chúc phúc trước khi cử hành các nghi lễ. Không chỉ có vậy, vào các dịp sinh nhật, Hoàng thượng cùng các quan trong triều mặc lễ phục đến cung Diên Thọ làm lễ thỉnh an và chúc thọ. Bản Tấu của Bộ Công ngày 21 tháng 12 năm Khải Định thứ 3 (1918) đề cập:“tháng Giêng, khai xuân, có lễ Tết Nguyên đán, xin tuân lệnh trước đây, từ sáng sớm, Hoàng thượng dẫn quan văn võ trong triều đến yết kiến cung Diên Thọ và cung Trường Ninh. Cung tiến tờ kim tiền, làm lễ chúc tết, lễ xong Hoàng thượng quay trở về điện Thái Hòa4”. Hay trong bản Tấu ngày 24 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 5 (1930) của Bộ Lễ báo cáo công tác chuẩn bị lễ sinh nhật của Khôn nguyên Hoàng thái hậu, nhận được phụng chỉ rằng: “ Ngày 1 tháng tới đúng dịp lễ sinh nhật của ta. Các lễ chúc mừng và ca múa đều miễn cử hành, còn các lễ khác y theo lệ cũ. Các bộ đã tuân theo thi hành. 8 giờ sáng ngày lễ mừng xin các vị mặc áo đẹp đến Tôn cung Diên Thọ đại làm lễ thỉnh an, lễ xong, lui ra lĩnh yến5.

2. Kiến trúc cung Diên Thọ

Trong khu vực cung Diên Thọ có khoảng 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ. Các công trình này vừa phong phú về loại hình (điện, tạ, lầu, các) vừa đa dạng về phong cách kiến trúc, bởi chúng được xây dựng, cải tạo trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Các công trình kiến trúc tiêu biểu như: Chính điện Diên Thọ, điện Thọ Ninh, Trường Du tạ, Khương Ninh các, Tịnh Minh lầu… Có thể nói, khu vực cung Diên Thọ là một tập hợp điển hình các phong cách kiến trúc của thời Nguyễn.

Cung Gia Thọ: thuộc phường Tây nhất, phía bắc điện Phụng Tiên, bốn chung quanh bao thành bằng gạch; phía Nam là cửa Thọ Chỉ (đối diện với cửa Bắc điện Phụng Tiên), có 3 cửa hướng nam, đát lát đá xanh, trên gác lầu chồng. Phía trong cửa, bên đông là nhà Tả Túc, bên tây là nhà Hữu Túc, sân lát gạch sắt, ngăn bằng tường gạch, trong tường xây bức hình che; bên tả bên hữu mở 2 cửa, bên tả là cửa Thụy Quang, bên hữu là cửa Trinh Ứng. Chính giữa phía bắc tường là Tiền điện, nền cao 8 tấc, 1 phân. Điện làm theo kiểu nhà vuông, trên mái nhà lợp ngói phẳng, đất lát gạch sắt, bên đông bên tây đều 3 bệ, 1 cấp; bên tả là 2 hành lang dài, 1 nhà chè; bên hữu là 1 hành lang dài, 1 nhà chè. Phía bắc Tiền điện là Chính điện, nền cao 1 thước 4 tấc, phía trước 3 bệ đều 1 cấp, phía sau 2 bệ mỗi bệ 2 cấp, thềm, bệ đều xây bằng đá xanh; nếp chính 3 gian, bên đông bên tây 2 hiên, nếp trước 5 gian, đều mái chồng, đầu đao mép rồng, nóc gắn cái bầu báu lợp bằng ngói âm dương, bên tả bên hữu mỗi bên một hành lang vòng. Phía trước hiên đông hơi lùi về phía bắc có cái hồ vuông, giữa hồ là nhà tạ Trường Du, lợp bằng ngói lưu ly xanh, phía đông nhà tạ là một hành lang vòng, mở ra phía đông là cửa Thiệu Khánh (đối diện với bên hữu cửa Gia Tường). Phía trước hiên tây đắp một quả núi, trở ra phía tây là cửa Địch Tường (đối diện với đài Tây Khuyết); bên hữu sân sau điện là một hành lang dài; bên hữu hành lang là am Phúc Thọ. Phía bắc sân là điện Thọ Ninh, nền cao 1 thước 4 tấc, phía trước phía sau đều 3 bệ, bệ có 2 cấp, thềm, bệ đều xây bằng đá xanh, nếp chính 7 gian, bên đông bên tây 2 hiên, nóc gắn cái hồ báu, lợp bằng ngói âm dương, mặt đất lát ván màu. Bên tả điện là một hành lang vòng, một nhà bếp, bên hữu là một nhà kho. Sâu sau điện ngăn bằng tường gạch, trong tường xây bức bình chắn, ngoài tường là thành gạch, mở một cửa là Diễn Trạch; tên gác lầu chồng là cửa Bắc Cung (đối diện với phía nam cung Trường Ninh).6

Khuôn viên cung Gia Thọ lúc này được bao quanh bằng tường gạch, phía nam có cửa Thọ Chỉ, phía bắc là cửa Diễn Trạch, phía đông là cửa Thiện Khánh, phía Tây là cửa Địch Tường. Ở trung tâm là chính điện Diên Thọ quay mặt về hướng nam. Hiên đông của điện, hơi lùi về phía bắc là nhà tạ Trường Du. Một hành lang vòng từ tạ Trường Du nối ra cửa Thiện Khánh qua cửa Gia Tường vắt ra sau điện Càn Thành. Trước hiên tây của điện đắp một quả núi, mang dáng dấp hoa viên. Phía nam Chính điện là Tiền điện. Nền điện cao 8 tấc 1 phân (tức là gần 32,4 cm), xây theo kiểu nhà vuông, trên mái lợp ngói phẳng, sàn lắt gạch sắt, hai phía đông tây điện 3 bậc, bên đông điện có 2 hành lang dài nối với nhà chè (có lẽ là nhà Tả Trà), bên tây điện cũng có 1 hành lang dài nối với nhà chè. Phía bắc Chính điện là sân sau, hai bên đông tây sân đều có hành lang. Phía tây hành lang bên tây sân là am Phước Thọ hay còn gọi là gác Khương Ninh. Phía bắc sân là điện Thọ Ninh hướng về phía nam, hai bên đông tây điện là nhà bếp và nhà kho. Hoàng thái hậu Từ Dũ đã sống tại cung Gia Thọ trong suốt 53 năm từ năm 1849-1902. Sau khi bà Từ Dũ mất, mẹ của Vua Thành Thái là Hoàng thái hậu Từ Minh được chuyển đến đây ở, cung Gia Thọ cũng được đổi tên thành cung Ninh Thọ.

Năm 1916, vua Khải Định lên ngôi, cung Ninh Thọ được trùng tu, sửa chữa lớn, đồng thời đổi tên thành cung Diên Thọ, trở thành tên chính thức của khu vực cung cho đến ngày nay. Lúc này hoàng quý phi của vua Đồng Khánh là bà Thánh cung ở trong cung này. Bà Thánh Cung mất năm 1940. Cung Diên Thọ thành chỗ ở của bà Tiên Cung (mẹ sinh vua Khải Định, sau được tôn phong là Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu) đến năm 1944 rồi bà Từ Cung (tức Đoan Huy Hoàng thái hậu, mẹ của Vua Bảo Đại). Bà Từ Cung cũng là bà Hoàng thái hậu cuối cùng của nhà Nguyễn được ở trong cung Diên Thọ. Như vậy, tổng cộng có 7 vị Hoàng thái hậu, 4 vị Thái hoàng thái hậu nhà Nguyễn đã sống ở cung Diên Thọ. Tuy nhiều lần sửa chữa từ khi xây dựng đến sau này nhưng kiến trúc cung Diên Thọ hiện nay về cơ bản vẫn giữ kết cấu xây dựng thời Tự Đức. Cũng có công trình bị phá đi hoặc xây mới, chẳng hạn, năm 1927, lầu Tịnh Minh, tòa lầu hai tầng theo phong cách kiến trúc Pháp, được xây mới ở phía tây nam chính điện, đối xứng với nhà Tả Trà. Sau năm 1945, nhà Nguyễn sụp đổ, trải qua giai đoạn chiến tranh khốc liệt, nhiều công trình trong Đại Nội bị tàn phá nặng nề hoặc biến mất nhưng toàn bộ khuôn viên cung Diên Thọ hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Đến năm 1993, cung Diên Thọ nằm trong danh mục 16 di tích thuộc quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận là di sản văn hóa thế giới và hiện nay tiếp tục được đầu tư tu bổ và phục nguyên lại các kết cấu kiến trúc cũ. Về kiến trúc: Trong khu vực cung Diên Thọ có khoảng 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ. Các công trình này vừa phong phú về loại hình (điện, tạ, lầu, các) vừa đa dạng về phong cách kiến trúc, bởi chúng được xây dựng, cải tạo trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Có thể nói, khu vực cung Diên Thọ là một tập hợp điển hình các phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Các công trình kiến trúc tiêu biểu như: Chính điện Diên Thọ, điện Thọ Ninh, Trường Du tạ, Khương Ninh các, Tịnh Minh lầu…

Chính điện Diên Thọ: Là công trình trung tâm của cung Diên Thọ. Tòa điện được xây dựng theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc” rất đồ sộ, tiền điện bảy gian hai chái nối với chính điện năm gian hai chái bằng bộ vì vỏ cua chạm trổ tinh xảo. Hệ thống vì kèo tiền doanh làm theo kiểu chồng rường giả thủ, chạm trổ tỉ mỉ, thanh nhã. Trên nóc chính điện gắn quả bầu báu, đầu đao mái nhà trang trí hình chim phượng (để tượng trưng cho nơi ở của phụ nữ hoàng tộc nhà Nguyễn), lợp ngói lưu ly vàng. Giữa hai tầng mái là cổ diềm, được trang trí các ô hộc khảm tranh bằng sành sứ rất sinh động. Tòa Diên Thọ chính điện được chống đỡ bằng hệ thống cột gỗ và vì kèo tiền doanh theo lối chồng rường giả thủ, chạm trổ tỉ mỉ, thanh nhã. Ba gian giữa tòa điện đặt bục gỗ, kê bàn ghế làm nơi Hoàng thái hậu tiếp khách. Toàn bộ cửa trước được gắn cửa kính, lối xây dựng du nhập từ phương Tây. Hai gian hai bên được ngăn riêng thành buồng kín làm nơi ăn ở của Hoàng thái hậu, ba gian giữa đặt bục gỗ, kê bàn ghế làm nơi Hoàng thái hậu tiếp khách. Nội thất điện còn khá nguyên vẹn và có giá trị, đặc biệt là bức hoành phi Diên Thọ cung được làm từ năm 1916 và tám bức tranh gương vẽ các cảnh nổi tiếng của xứ Thần kinh như: Thiên Mụ chung thanh, Thường Mậu quan canh, Cao các sinh lương, Thanh trì hương luyện… Ngay phía trước điện chính là một tấm bình phong dài bằng gạch, mặt trước có trang trí đắp nổi rất sinh động, ở phía đông của bình phong này là hành lang nối thông qua Tử Cấm Thành để nhà vua thường ngày có thể đi bộ theo hành lang này để vấn an Thái hậu hoặc Thái hoàng thái hậu. Hệ thống hành lang ở cung Diên Thọ đều có mái che lợp ngói, nối thông tất cả các công trình kiến trúc chính trong cung. Vì vậy, sự có mặt của hệ thống trường lang này vừa tạo nên sự thống nhất bền vững của quần thể các công trình, vừa tạo được vẻ mềm mại, uyển chuyển của tổng thể kiến trúc trong khu vực cung. Trang trí ở đây phần lớn đều lấy hình ảnh chim phượng hoàng làm chủ đề vì chim phượng hoàng tượng trưng cho phái nữ.

14.2.2019_002

Cung Diên Thọ

– Lầu Tịnh Minh: Được xây dựng vào năm 1927 đời Vua Bảo Đại trên nền của Thông Minh đường – một trong số nhà hát tuống trong Đại Nội. Đây là tòa nhà xây theo lối kiến trúc hiện đại kiểu phương Tây, dành cho bà Từ Cung mẹ của nhà vua sinh sống. Năm 1950, tòa nhà được mở rộng quy mô để làm nơi sinh hoạt tạm thời cho Vua Bảo Đại. Ngày nay tòa nhà là văn phòng Trung tâm phối hợp Nghiên cứu đào tạo và Bảo tồn di tích Huế.

– Nhà Tả Trà được dựng đối xứng với Tịnh Minh lầu dùng làm nơi chờ cho những ai vào yết kiến Hoàng thái hậu. Tòa nhà ba gian hai chái xây bằng gạch và gỗ, được cải tạo bằng bê tông vào năm 1927. Năm 1968 gần như vụ bom đánh sập, từ năm 2011 đến nay dự án khôi phục nguyên trạng nhà Tả Trà được triển khai. Khu này ngày nay trở thành một phòng trưng bày cổ vật. Hiện vật đáng chú ý nhất nơi đây là chiếc xe kéo của mẹ của Vua Thành Thái. Đây là hiện vật được đấu giá thành công của tỉnh Thừa Thiên Huế tại Chaeau de Cheverny (Pháp) vào tháng 6/2014. Để sở hữu chiếc xe này, tỉnh Thừa Thiên Huế phải bỏ ra 55.800 Euro (khoảng 1,5 tỉ đồng). Một hiện vật đặc sắc khác là chiếc kiệu cổ của Hoàng thái hậu Từ Cung (1890-1980, là vợ Vua Khải Định, mẹ của Vua Bảo Đại).

Chú thích:

1. Đại Nam nhất thống chí, quyển I, Kinh sư.

2. Đại Nam thực lục, đệ nhất kỷ, quyển XXV.

3. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 2, tờ 53, Khải Định.

4. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 4, tờ 230, Khải Định.

5. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 5, tờ 138, Bảo Đại.

6. Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, Bộ Công, quyển 205.

7. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn.

Th.s: Hoàng Nguyệt – Phòng Công bố và giới thiệu tài liệu.

Liên Hệ Phòng Đọc

957113 truy cập

79 trực tuyến

Liên kết Website

© Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia I
Số giấy phép: 173/GP-TTDT, cấp ngày: 10/12/2015
Chịu trách nhiệm: Ths. Trần Thị Mai Hương - Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia I
Địa chỉ: 18, Vũ Phạm Hàm, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.37822545; Fax: 04.38255614